Home » Thư Viện » Hôn Nhân & Gia Đình » Người Phụ Nữ Của Đức Chúa Trời

Người Phụ Nữ Của Đức Chúa Trời

PHẦN GIỚI THIỆU

Phần 1 của quyển sách này rất quan trọng. Chúng ta cần phải giải quyết mối liên hệ của chúng ta với Chúa để có thể trở nên mạnh mẽ trong Đấng Christ và trở thành “một người giúp đỡ thích hợp”. Vai trò của người phụ nữ trong mọi bình diện của cuộc sống đều có liên quan đến các mối quan hệ. Cách thức chúng ta duy trì các mối quan hệ chính là lời làm chứng sống động nhất của chúng ta.
Là người phụ nữ Cơ Đốc chúng ta cũng cần đánh giá lại vai trò của chúng ta trong gia đình bởi vì nền tảng gia đình đang bị tấn công ác liệt. Đang có khuynh hướng xem thường hôn nhân gia đình trong thế giới ngày nay và thế hệ trẻ đang đặt câu hỏi: “Tại sao cần phải lập gia đình ?”. Các quốc gia đang phải lập ra những luật lệ mới để giải quyết tình trạng sống chung ngoài hôn thú đang trở nên rất phổ biến. Những người trẻ hôm nay đang đứng trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan bởi vì hôn nhân có vẻ như rất dễ đổ vỡ. Tình yêu thương, lòng tin cậy và sự cam kết hứa nguyện đều có thể bị gạt qua một bên để nhường chỗ cho những lợi ích riêng tư.
Sự ích kỷ, “tấm lòng cứng cỏi” của thế gian đã ảnh hưởng đến hôn nhân và gia đình Cơ Đốc. Những nguyên tắc của Kinh thánh không còn nữa. Ngày nay người ta rất dễ quyết định ly dị hoặc ly thân. Trước đây những điều này chỉ phổ biến ở các nước phương Tây nhưng ngày nay nó đã bắt đầu trở nên trầm trọng đối với những người trẻ tại các quốc gia đang phát triển.
Điều đáng buồn là các gia đình Cơ Đốc và ngay cả gia đình của những vị lãnh đạo Hội thánh cũng có nhiều vấn đề. Chúng ta đã thất bại trong việc làm chứng về điều này cho thế gian. Vì thế, là những người phụ nữ Cơ Đốc, chúng ta cần phải xác định lại vị trí của mình trong hôn nhân gia đình.
Mục đích của hôn nhân là gì ? Chúng ta cần phải suy nghĩ về điều đó, ghi chép lại và sẵn sàng đem ra thực hiện như một công tác phục vụ Chúa và như một lời làm chứng sống động về Ngài cho thế gian. Đây chính là mục tiêu mà những người phụ nữ Cơ Đốc phải nhắm đến.
HÔN NHÂN LÀ CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Giao ước hôn nhân
Hôn nhân không phải là sản phẩm của lịch sử ! Hôn nhân chính là chương trình của Đức Chúa Trời cho con người trong suốt mọi thời đại. Đức Chúa Trời là Chúa của giao ước và hôn nhân chính là một hình thức giao ước.
ChCn 2:17
“Nàng lìa bỏ bạn của buổi đang thì,
Và quên sự giao ước của Đức Chúa Trời mình”
Lời Chúa trong sách Châm ngôn đã khẳng định một cách dứt khoát chế độ một vợ một chồng cũng như sự thánh khiết của hôn nhân và gia đình.
“Các ngươi lại còn làm sự nầy:các ngươi lấy nước mắt, khóc lóc, than thở mà che lấp bàn thờ Đức Giê-hô-va, nên nỗi Ngài không nhìn đến của lễ nữa, và không vui lòng nhận lấy vật dâng bởi tay các ngươi. Các ngươi lại nói rằng:Vì sao ? Aáy là vì Đức Giê-hô-va làm chứng giữa ngươi và vợ ngươi lấy lúc tuổi trẻ, mà ngươi đãi nó cách phỉnh dối, dầu rằng nó là bạn ngươi và là vợ giao ước của ngươi” (MaMl 2:13,14)
Từ ngữ GIAO ƯỚC được định nghĩa trong tự điển như sau:
Một sự cam kết long trọng giữa hai hoặc nhiều người với nhau
Một sự cam kết có tính cách pháp lý
Một giao kèo
Do đó hôn nhân Cơ Đốc là một GIAO ƯỚC giữa người nam và người nữ cùng nhau thề nguyện trước mặt Chúa sẽ trung thành với nhau suốt đời trong một giao ước long trọng và chặt chẽ nhất. “Vậy người ta không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp” (Mac Mc 10:9)
Kinh thánh rất coi trọng hôn nhân:
ChCn 18:22 “Ai tìm được một người vợ, tức tìm được một đều phước”
Gie Gr 29:5,6 “Hãy xây nhà và ở; hãy trồng vườn và ăn trái; hãy lấy vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, hầu cho chúng nó đẻ ra con trai và con gái. Hãy lấy vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, hầu cho chúng nó đẻ ra con trai và con gái. Ssố các ngươi khá thêm nhiều ra ở đó và đừng kém đi”
ITi1Tm 3:12 “Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình”
ITi1Tm 5:14 “Vậy ta muốn những gái góa còn trẻ nên lấy chồng, sanh con cái, cai trị nhà mình, khỏi làm cớ cho kẻ thù nghịch nói xấu”
HeDt 13:4 “Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn khuê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình”
Việc tạo dựng nên người nữ – Sự bày tỏ của tình yêu
Việc tạo dựng nên người nữ đã bày tỏ tình yêu thương sâu sắc của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Ngài không những chỉ quan tâm đến việc sinh sản con cái, nhưng Ngài cũng quan tâm đến tình trạng cô đơn của người nam, bởi vì Ađam đã không thể tìm được người bạn nào giữa các thú vật và ông rất cần một người để giúp đỡ mình. Và thế là Ngài đã tạo dựng nên một người giúp đỡ rất phù hợp cho Ađam, là người sẽ bổ túc cho ông và cũng là người có thể cùng có một tần số với ông về mặt tinh thần, thể chất, tình cảm cũng như thuộc linh. “Nhưng về phần Ađam, thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết” (SaSt 2:20). Khi tạo dựng Eâva Đức Chúa Trời đã tạo dựng một người bạn hoàn toàn phù hợp với Ađam. “Giêhôva Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi Ađam làm nên một người nữ, đưa đến cùng Ađam” (SaSt 2:22).
Việc tạo dựng nên người nữ rất đặc biệt. Điều này nhằm thực hiện một mục đích rất cụ thể. “Đức Chúa Trời đã dựng nên người nữ” – Từ ngữ Hêbơrơ “panah” được dịch là “dựng nên” có nguyên nghĩa là được tạo dựng một cách khéo léo. Kinh thánh đã không dùng từ ngữ “asah” là từ ngữ vẫn thường dùng để nói về sự khéo léo.
Như vậy người nữ đã được tạo dựng một cách đặc biệt để đáp ứng với nhu cầu của người nam. Điều mà Ađam cần đó là một người giúp đỡ giống như ông. Chính từ ngữ “người giúp đỡ” đã bày tỏ ý nghĩa và tầm quan trọng của người phụ nữ .
“Giúp đỡ” có nghĩa là đáp ứng những gì cần thiết – có nghĩa là đem lại sự yên ủi khi gặp khó khăn, giúp đỡ, phục vụ …
Với tình yêu thương cao cả, Đức Chúa Trời đã quyết định lấy xương sườn của Ađam để dựng nên người nữ, và như thế người nữ không những chỉ là một người giúp đỡ nhưng còn là người bạn đường của người đàn ông. Êva đã được dựng nên để mang lại sự hoàn hảo cho Ađam, hầu cho Ađam có thể nhìn thấy sự trọn vẹn của mình nơi Êva và tìm thấy nơi Êva những điều bù đắp cho sự thiếu sót của mình.
Khi người nam và người nữ kết hiệp với nhau để làm nên sự trọn vẹn thì họ trở thành một sự phản ảnh tình yêu của Đức Chúa Trời và bày tỏ ý chỉ tốt lành của Ngài. Ngài đã xác định rằng mối quan hệ hôn nhân ưu tiên hơn và vượt qua mối quan hệ với cha mẹ. “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt” (SaSt 2:24).
Sẽ không có mối liên hệ nào hay sự ràng buộc nào quan trọng hơn mối liên hệ giữa chồng và vợ.
Việc tạo dựng nên người nữ là một sự bày tỏ tình yêu và mối liên hệ giữa người nam và người nữ trong hôn nhân chính là sự thể hiện của tình yêu.
MỤC ĐÍCH CỦA HÔN NHÂN
Hôn nhân được thiết lập bởi Đức Chúa Trời có ba mục đích:
Tình bè bạn, tình chăn gối
Sinh sản con cái
Vì lợi ích của xã hội
Tình bạn trong hôn nhân
Sách hướng dẫn nghi lễ hôn phối của giáo hội Anh quốc giáo xác định mục đích của hôn nhân là: “để phục vụ lợi ích của xã hội, đem lại sự giúp đỡ và khích lệ cho cả vợ lẫn chồng khi thịnh vượng cũng như lúc khó khăn. Tạo điều kiện để các bản năng và tình cảm tự nhiên được dựng nên bởi Đức Chúa Trời được thánh hóa và sử dụng một cách đúng đắn, cũng như tạo điều kiện để mỗi cá nhân được Đức Chúa Trời kêu gọi sống đời sống lứa đôi cần phải sống một cách thánh khiết”.
Ngày nay tại các nước phương Tây cũng như các nước đang phát triển, những quan điểm truyền thống trong hôn nhân bắt đầu thay đổi nhiều. Trước đây người chồng được coi là người chủ gia đình và người vợ chỉ lo công việc nội trợ. Ngày nay người ta đang nhấn mạnh đến sự chia xẻ trách nhiệm chung giữa vợ chồng. Đang có một phong trào kêu gọi sự bình đẳng nam nữ ở sở làm cũng như tại gia đình. Tuy nhiên, mối quan hệ căn bản giữa vợ chồng vẫn giữ nguyên:đó là nhu cầu về tình bạn, tình yêu, tình chăn gối và sự thành đạt chung.
Việc sinh sản, nuôi dưỡng con cái và mối liên hệ chăn gối chỉ là một phần nhỏ trong đời sống hôn nhân. Phần quan trọng hơn của đời sống hôn nhân đó là chia xẻ cuộc sống, suy nghĩ, tình cảm, nỗi lo âu và niềm hạnh phúc.
Ý nghĩa của hôn nhân chính là sự chia xẻ cuộc sống, một tình bạn bền vững, một người bạn đời chung thủy và một tình bạn thân thiết.
Hôn nhân là điều đẹp đẽ nhất, kỳ diệu nhất và ý nghĩa nhất.
Chúng ta bước vào hôn nhân với tất cả hành trang vốn có của mình:Sự sợ hãi, tự ti mặc cảm và tất cả những thiếu sót bất toàn của mỗi con người.
Như tôi đã nói trong những phần trước, một trong những vấn đề của tôi là sự tự ti mặc cảm và ý nghĩ cho rằng mình không có giá trị. Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có thể tốt bằng nhà tôi. Nhà tôi lớn hơn tôi vài tuổi và là một mục sư Anh quốc giáo, là người mà tôi vô cùng kính phục và ngưỡng mộ. Sự kính sợ mà tôi thường có đối với Đức Chúa Trời cũng như đối với cha tôi chính là yếu tố nổi bật nhất trong mối quan hệ với chồng tôi. Tôi cứ luôn sợ rằng nhà tôi sẽ chú ý đến một người phụ nữ khác có cuộc sống thuộc linh hơn tôi.
Vì thế tôi cố gắng cư xử một cách tốt đẹp như một cô bé ngoan ngoãn và không bao giờ muốn chồng tôi thấy được những khía cạnh xấu của tôi, bởi vì tôi nghĩ rằng nếu chồng tôi nhận ra những điều đó thì sẽ không còn yêu thương tôi nữa.
Tôi đã nhìn chồng tôi như một tượng đài cao cả.
Tôi không bao giờ có thể nghĩ đến sự bình đẳng nam nữ.
Nhà tôi không hề hay biết gì về những dằn vặt nội tâm của tôi.
Do ý tưởng cho rằng mình không tốt đủ nên tôi đã không phát huy vai trò tích cực của tôi trong đời sống hôn nhân. Tôi đã không chấp nhận chính mình và có một hình ảnh rất tiêu cực về chính mình. Chính vì thế cả những điều nhỏ nhặt nhất cũng có thể khiến tôi bối rối và cảm thấy khốn khổ, dễ bị tổn thương, ganh tị. Và điều tệ hơn là tôi không dám thú nhận mình có những tình cảm đó.
Tôi đau khổ và lặn hụp trong tâm trạng bất ổn và không bao giờ dám nghĩ rằng chồng tôi thực sự yêu thương tôi. Tôi tự cho rằng mình là con người kém cỏi và luôn thấy rằng chồng tôi ở vị trí cao hơn. Sự mất bình đẳng này đã không giúp chúng tôi xây dựng được một tình bạn chân thật và sâu đậm.
Chúng tôi còn giữ được mối hôn nhân tốt đẹp chỉ vì chúng tôi yêu mến Chúa và hết lòng muốn phục vụ Ngài. Chúng tôi rất bận rộn trong công tác phục vụ Chúa. Tôi cũng cảm thấy được Chúa kêu gọi như chồng tôi. Rất nhiều lần tôi che giấu những tình cảm riêng của mình bằng các việc làm. Chỉ khi tôi được hòa thuận với Đức Chúa Trời và chấp nhận chính mình, giữ địa vị cân bằng với chồng tôi như một người bạn đời thì tình bằng hữu mới bắt đầu phát triển.
Cảm tạ Chúa, Ngài đã chữa lành cho tôi và phục hồi hôn nhân của chúng tôi.
“Nhưng làm thế nào mối liên hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ có thể phát triển đến mức tốt đẹp nhất mà Đức Chúa Trời đã ấn định ? Điều này đòi hỏi một tình yêu sâu sắc và không ngừng rèn luyện. Ở đây có một yếu tố quan trọng hơn mọi yếu tố khác. Đó là tình bè bạn – tình bằng hữu giữa hai con người trong đó mỗi người phát triển đến điều tốt đẹp nhất và ban phát cũng như nhận lãnh tối đa những gì mà hai người có thể chia xẻ cho nhau. Một khi hôn nhân không đạt đến sự chia xẻ đó thì đã đánh mất ý nghĩa cao cả nhất”.
Trải qua năm tháng, tôi và nhà tôi đã trưởng thành trong tình bạn đối với nhau. Tôi không còn coi nhà tôi là thần tượng nữa. Không phải bởi vì nhà tôi không còn hấp dẫn như trước, nhưng chỉ vì chúng tôi đã trưởng thành trong sự hiểu biết và chấp nhận lẫn nhau cả những ưu điểm và khuyết điểm. Người chồng hay người vợ không nên trở thành một điều gì đó ngăn trở sự phát triển nhân cách của người kia, nhưng với tình yêu thương họ cần phải chia xẻ cuộc sống, nâng đỡ và gây dựng lẫn nhau.
Hôn nhân là cả một quá trình ban cho và tiếp nhận, hôn nhân có nghĩa là một tình bè bạn chân thật và bền vững.
Hôn nhân chính là tình bè bạn và tình bạn cần thời gian để phát triển.
Trong tác phẩm “Tình Bạn”, tác giả Jim Conway đã nêu lên mười yếu tố chính của tình bạn:
Tình bạn là điều rất quan trọng trong hôn nhân, bởi vì một ngày nào đó những đứa con đã từng chiếm mất thời giờ và vị trí trong gia đình sẽ trưởng thành và rời khỏi gia đình. Một trong những kinh nghiệm buồn bã nhất là vợ chồng nhận ra rằng mình không có một nền tảng chung và gia đình chỉ là một căn nhà trống trải. Thời gian đã trôi qua nhưng mối liên hệ giữa vợ chồng đã không được vun đắp tài bồi. Mối quan hệ đó đã không nẩy nở để trở thành một vườn hoa với đầy tình yêu thương và tình bạn chân thật, nhưng đã trở nên một khu vườn hoang vắng, khô hạn và buồn tẻ. Có những cặp vợ chồng đã bước vào hôn nhân với tình yêu nồng thắm và hạnh phúc, nhưng sau đó chỉ còn là đống tro tàn của sự chịu đựng và niềm vui gượng gạo.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nêu trên là người phụ nữ đã chỉ sống cho con cái hoặc cho sự nghiệp, và người chồng chỉ đóng vai trò thứ yếu trong đời sống của họ. Người phụ nữ có thể quá quan tâm đến con cái mà không chú ý đến việc đáp ứng nhu cầu của người chồng. Đến khi con cái đã khôn lớn và tự lập thì những người phụ nữ này thường rơi vào tình trạng khủng hoảng, cô đơn và cảm thấy tự ti mặc cảm, có cảm giác như mình không còn cần thiết nữa. Vợ, chồng có thể sống chung dưới một mái nhà,ø nhưng người đàn ông đã tự tạo cho mình một cuộc sống riêng với những thú vui riêng. Họ không có điều gì chung để chia xẻ cả. Cuộc sống của họ như hai đường thẳng song song không hề gặp nhau.
Tuy nhiên nếu chúng ta sống cuộc đời đặt Chúa làm trung tâm của mình chứ không phải là bản ngã, thì chúng ta sẽ có thể xây dựng một cuộc hôn nhân với tình bạn bền vững chứ không phải chỉ là mối quan hệ gượng gạo.
Vấn đề giới tính
“Hôn nhân được Đức Chúa Trời thiết lập với mục đích để các bản năng và tình cảm tự nhiên mà Tạo hóa phú bẩm cho con người có thể được thánh hóa và sử dụng một cách đúng đắn; và để cho những người được Chúa kêu gọi sống cuộc sống gia đình có thểõ tiếp tục bước đi trong “sự thánh khiết”. (Sách Cầu nguyện của Giáo hội Anh quốc giáo xuất bản năm 1928).
Những sự bày tỏ bình thường của các bản năng tự nhiên được Tạo hóa phú bẩm đã khiến cho hôn nhân trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc đối với cả vợ lẫn chồng. Bản năng tính dục rất thường bị lạm dụng và giải thích một cách sai lạc. Với tư cách là người phụ nữ của Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải giữ cho vấn đề tính dục luôn thánh khiết và đẹp đẽ như ý định của Đức Chúa Trời đã thiết lập. (Vấn đề tính dục sẽ được bàn thêm ở Chương 6 “Tính dục trong hôn nhân”).
Việc duy trì nòi giống.
“Hãy sinh sản thêm nhiều và làm cho đầy dẫy đất” (SaSt 1:28)
Thật kỳ diệu khi Đức Chúa Trời muốn dùng chúng ta để cộng tác với Ngài trong chương trình sáng tạo.
Một vị mục sư đã nói như sau: “Điều rõ ràng là con người có những bản năng, nhưng con người cũng có lý trí và ý chí tự do, và bởi đó con người có thể cộng tác một cách chủ động với Đức Chúa Trời trong việc tạo dựng nên sự sống. Ý thức rằng chính người chồng, người vợ có khả năng để sinh sản ra con cái đáng phải dẫn chúng ta đến thái độ hạ mình và kính sợ một cách sâu xa”.
Con cái là phần thưởng của Đức Chúa Trời
“Kìa con cái là cơ nghiệp bởi Đức Giê-hô-va mà ra,
Bông trái của tử cung là phần thưởng.
Con trai sanh trong buổi đương thì khác nào mũi tên nơi tay dõng sĩ.
Phước cho người nào vắt nó đầy gùi mình
Người sẽ không hổ thẹn” (Thi Tv 127:3-5)
“Mão triều thiên của ông già ấy là con cháu” (ChCn 17:6)
Chính Đức Chúa Trời đã thiết lập gia đình. Ngài muốn các con trẻ được sinh ra và trưởng dưỡng trong gia đình. Ngài muốn chúng được sinh ra bởi người cha, người mẹ đã đến với nhau trong sự kết ước sẽ trung thành trong tình yêu thương. Gia đình chính là kiệt tác của Đức Chúa Trời !
“Đức Giê-Hô-Va làm cho kẻ cô độc có nhà ở” (Thi Tv 68:6). Đức Chúa Trời muốn rằng các trẻ em được sinh ra trong thế giới này sẽ được sống trong mối liên hệ với cha mẹ, anh chị em, chú bác, cô dì, ông bà nội ngoại. Đây chính là môi trường tốt đẹp nhất cho các em.
Những cặp vợ chồng son sẻ cần nhìn thấy mục đích đặc biệt của Chúa cho mình. Nếu những cặp vợ chồng đó bằng lòng vâng phục Chúa và phục vụ Ngài, họ sẽ có thể được phước rất nhiều trong công tác phục vụ Chúa và người khác. Việc tiếp nhận con nuôi cũng có thể là một khả năng và điều đó cũng chính là một công tác phục vụ thiếu nhi đặc biệt.
Chúng tôi biết một phụ nữ kia trong Hội thánh đã nhiều lần bị sẩy thai và không thể có con. Bà rất yêu mến Chúa và có lòng sốt sắng. Bà đã dành hết tâm trí cho chương trình Trường Chúa nhật và các lớp Kinh thánh tại một nhà thờ ở Calcutta. Bà cũng tổ chức những sinh hoạt vui chơi cho các em thiếu nhi tại nhà của mình và đặc biệt quan tâm đến những trẻ em nghèo thiếu. Bà thể hiện một nhân cách dịu dàng, nhân từ và không bao giờ tự thương hại mình. Bà quả thật là một gương mẫu sáng chói về tình yêu thương của Chúa Cứu thế.
Có thể nêu lên như một ví dụ, khi chúng tôi đưa con gái lên ba tuổi tên Debbie đến bệnh viện ở Vellore, miền nam Aán độ để được bác sĩ giải phẫu thì người phụ nữ này đem đến cho chúng tôi một quà tặng. Bà đã cẩn thận gói từng món quà nhỏ cho từng ngày mà con tôi sẽ phải trải qua trong bệnh viện.
Tấm lòng yêu thương chăm sóc của bà có thể nói là không giới hạn. Bà rất được phước và thỏa lòng trong cuộc sống cũng như trong chức vụ chăm sóc các thiếu nhi của bà. Bản năng làm mẹ của bà đã trở thành nguồn phước hạnh cho nhiều người.
Mặc dầu trong các mục đích của hôn nhân, việc sinh sản con cái được Kinh thánh nhắc đến sau, tuy nhiên các mục đích đều có tầm quan trọng như nhau. Chúng ta tiến đến hôn nhân không phải chỉ là để sanh sản con cái. Con cái chính là bông trái của tình yêu, tình yêu thương giữa vợ chồng và tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời.
Hôn nhân là nền tảng của xã hội
Gia đình Cơ Đốc chính là một lời chứng sống động và mạnh mẽ. Có tác giả tuyên bố rằng: “Đức Chúa Trời đã không đặt tương lai của nhân loại dựa trên Hội thánh hay trên quốc gia nhưng đặt nền tảng trên các gia đình”. Gia đình chính là cột trụ của xã hội bởi vì gia đình Cơ Đốc chính là nơi bảo vệ các giá trị đạo đức của xã hội.
Nơi nào giá trị đạo đức suy đồi thì nơi đó nền tảng gia đình cũng đổ vỡ.
“Mục đích của hôn nhân là giúp mỗi cá nhân phát triển đến mức độ tốt đẹp nhất trong bầu không khí tự do, độc lập. Bởi vì sự thịnh vượng của xã hội và đất nước tùy thuộc vào sự sự phát triển của mỗi cá nhân trong gia đình, nên chúng ta cần phải học hỏi để làm sao gây dựng được những gia đình tốt đẹp”. (Jack Dominion)
CÁC NGUYÊN TẮC CỦA HÔN NHÂN CƠ ĐỐC GIÁO

Hôn nhân là mối liên hệ gắn bó trọn đời
Hôn nhân là một sự cam kết gắn bó suốt đời cho đến khi đầu bạc răng long !
“Vậy người ta không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp”
(Mac Mc 10:9)
Lý tưởng và mục đích của hôn nhân Cơ Đốc giáo đó là sự bền vững suốt đời, sự hiệp một và thánh khiết. Hôn nhân không thể bị phân chia và đời sống vợ chồng chính là sự hiệp một hoàn toàn của hai cá thể nam và nữ cùng nhau quy hướng về Đức Chúa Trời, bước theo luật lệ của Ngài và cùng cam kết ra sức vun đắp để hôn nhân của họ kết quả tốt đẹp.
Việc cam kết với nhau và với Đức Chúa Trời như vậy là một yếu tố nền tảng trong hôn nhân.
Đức Chúa Trời muốn rằng hôn nhân là một cam kết vĩnh cửu. Ngài đã thiết lập hôn nhân để đạt đến mục đích của Ngài chứ không chỉ phục vụ cho sự thoải mái và vui thú của con người mà thôi. Hôn nhân Cơ Đốc giáo đòi hỏi sự cam kết đạt đến mục đích của hôn nhân.
“Nhưng từ lúc đầu sáng thế, Đức Chúa Trời làm ra một người nam và một nữ. Vì cớ đó, người nam lìa cha mẹ mình mà dính díu với vợ; và hai người cùng nên một thịt mà thôi.Như thế, vợ chồng chẳng phải là hai nữa, mà chỉ là một thịt. Vậy người ta không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp ” (Mac Mc 10:6-9)
Khi có người hỏi Chúa Giê-xu về vấn đề ly dị và việc Môi-se nhượng bộ cho phép ly thân. Ngài đã nhấn mạnh đến nguyên tắc sau đây: “Aáy vì cớ lòng các ngươi cứng cỏi, nên người đã truyền mạng nầy cho” (Mac Mc 10:5). Chúa Giê-xu muốn nói rằng luật pháp đã phần nào muốn chiều theo con người và đã có sự nhượng bộ. Tuy nhiên luật pháp của Đức Chúa Trời đối với con người và những giá trị tinh thần vốn vượt trên những luật lệ của loài người. Chúa Giê-xu đã nhắc lại Lời Chúa: “Điều gì Đức Chúa Trời đã kết hiệp thì loài người không được phân rẽ”.
Chúa Giê-xu đã chuyển vấn đề từ chỗ những gì phù hợp với luật pháp sang những gì thuộc về mục đích của Đức Chúa Trời – tức là những khía cạnh đạo đức và thuộc linh của hôn nhân. Ngài nhấn mạnh đến hôn nhân bền vững và thánh khiết. Ngài cũng bày tỏ mối quan tâm về tình trạng phụ nữ trong thời đại của Ngài. Vào thời đó nam giới luôn được đề cao và những đặc quyền của phái nam luôn được nhấn mạnh trong suy nghĩ và sinh hoạt tôn giáo của người Do thái thời đó. Chúa Giê-xu nhấn mạnh đến sự bình đẳng giữa nam và nữ và điều này đã có ảnh hưởng to lớn trên dân tộc của Ngài và cả thế giới.
Cuộc sống có thể rất khắc nghiệt, có những cặp vợ chồng bước vào hôn nhân với những kỳ vọng và lý tưởng đẹp đẽ nhất, bỗng nhận thấy rằng đã rơi vào mớ bòng bong của những mâu thuẫn nội tâm và đã trải qua địa ngục trần gian, trong một cuộc hôn nhân đầy sóng gió về đủ mọi mặt.
Thực trạng bi thảm như vậy cứ được phép tiếp diễn hay sao ? Đó có phải là điều Chúa Giê-xu mong muốn không ? Nếu câu trả lời là có, thì nghĩa là chúng ta đã đặt Chúa Giê-xu ngang hàng với những người sùng bái luật pháp mà Ngài vốn chống đối lại.
Chúng ta không nên khiến ly dị trở thành một điều dễ dãi chỉ phục vụ cho những lý do ích kỷ và vô đạo đức. Đối với những trường hợp thực sự khó khăn, Hội thánh cần phải yên ủi và giúp đỡ những người đau khổ và thiệt thòi bởi vì ly dị chắc chắn sẽ để lại những vết thương sâu sắc cho người bị ruồng bỏ.
Trong hôn nhân, những người vợ, người chồng Cơ Đốc cần phải sống một cách có trách nhiệm đối với mục đích của Đức Chúa Trời trong hôn nhân, chứ không làm theo đường lối dễ dãi của đời này. Đặc tính cơ bản nhất của hôn nhân Cơ Đốc giáo là sự trường cửu. Ý nghĩa của sự trường cửu có nghĩa là tồn tại một cách bền vững, lâu dài chứ không chỉ tạm thời, ngắn ngủi.
Thế giới chúng ta đang sống hôm nay đầy dẫy những bất ổn gây nên bởi sự thiếu bền vững trong hôn nhân, đến nỗi trước khi bước vào hôn nhân nhiều người đã ký những hợp đồng nhằm bảo đảm quyền lợi của mình. “Nếu như hôn nhân không tốt đẹp thì chúng ta có thể chia tay”. Điều này cũng giống như một sự mặc cả sẽ đòi lại tiền nếu sản phẩm không đạt chất lượng. Với sự nghi ngờ như vậy thì làm sao hôn nhân có thể bền vững được. Ngay từ đầu họ đã không dứt khoát cam kết đi theo những nguyên tắc của Đức Chúa Trời.
Là những người phụ nữ Cơ Đốc, chúng ta không được phép mặc cả gì hết. Chỉ có “cái chết mới có thể chia lìa” chúng ta. Khi bước vào hôn nhân, chúng ta đã cam kết với Đức Chúa Trời và với người phối ngẫu của mình là sẽ trợ giúp lẫn nhau để cùng hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta.
Ở Trung tâm Giáo dục Hôn nhân của chúng tôi, đã nhiều lần tôi có dịp làm công tác khuyên bảo đối với những phụ nữ trong các quốc gia đang phát triển, là những người vì những lý do văn hóa và truyền thống đã lập gia đình với người không tin Chúa. Thơ I Phierơ Chương 3 có thể được áp dụng cho những trường hợp này. Mặc dù phải đối diện với rất nhiều khó khăn, phần lớn những phụ nữ này đã giữ vững lời cam kết về một hôn nhân trường cửu. Họ có thể cảm thấy dễ dàng hơn nhiều khi quyết định ly thân và rẽ qua một hướng khác để tìm kiếm những điều thư thả hơn cho tình cảm và đời sống của họ.
Một trong những phụ nữ đó là một người có học thức đã kể cho tôi nghe về chồng của chị là người có địa vị trong xã hội. Người chồng này không những có rất nhiều thê thiếp mà mỗi khi một trong những thê thiếp đó sanh nở, thì ông đều đem những đứa bé đó cho người vợ cả chăm sóc.
Chị đã kể lại rằng: “Chồng tôi luôn nói rằng ông rất yêu quý tôi”. Ông thường nói với những cộng sự của ông rằng tôi là một người vợ rất tốt.
Điều duy nhất mà tôi có thể nói với chị ta là: “Tôi rất thông cảm với hoàn cảnh của chị”.
Cả cuộc đời tôi sẽ không thể quên được ánh mắt rất biết ơn của chị đối với tôi.
Sau khi tôi cầu nguyện, chị bắt đầu kể cho tôi nghe những tổn thương trong đời sống của chị. Chị đã phải chịu đựng biết bao tủi nhục, chán chường, hoang mang, lo lắng. Lòng tôi vô cùng thương cảm cho chị.
Chị đã bày tỏ nỗi niềm cho tôi và thổ lộ tất cả những đau đớn và cay đắng chị đã âm thầm chịu đựng. Thế nhưng, vượt qua tất cả những điều đó, cái duy nhất đọng lại trong tâm trí tôi là những lời chị nói trong nước mắt: “Bây giờ tôi có cả một đại gia đình mười bốn đứa con. Tôi nghĩ rằng Chúa đã cho tôi tất cả những đứa con này. Bà có thể thấy đó, tôi có một cơ hội rất đặc biệt để đưa dắt chúng đến với Chúa Cứu thế Giê-xu và nuôi dưỡng chúng trong đức tin Cơ Đốc”.
Tôi nhận thấy người phụ nữ này quả là một thánh nhân.
Bà đã chấp nhận đóng vai trò dưỡng dục những đứa con riêng của chồng và vượt qua tất cả những dị nghị bởi vì bà đã đặt Chúa lên trên hết.
Quả đúng như Kinh thánh đã chép, những đứa con của bà sẽ “trỗi dậy và nói rằng bà là người có phước” (ChCn 31:28).
Tôi cầu xin Chúa ban cho tôi một tấm lòng thật thương cảm đối với những phụ nữ vẫn trung tín sống như một Cơ Đốc nhân trong một hoàn cảnh trái ngược.
Hôn nhân là một sự hiệp một
“Thế thì, vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà thôi” (Mat Mt 19:6)
Đức Chúa Trời đã dựng nên người nam và người nữ để bổ túc lẫn cho nhau. Nói bổ túc có nghĩa là làm cho đầy đủ bằng cách bổ sung những điều thiếu sót và khiến trở nên trọn vẹn.
Vậy nên sự hiệp một giữa người nam và người nữ sẽ đem lại sự hoàn hảo và trọn vẹn. Sự hiệp một này được bày tỏ qua mái ấm gia đình. Gia đình chính là tế bào của xã hội theo như chương trình của Đức Chúa Trời. Một khi tế bào gia đình bị phá hủy hay phân rẽ thì hậu quả của nó rất to lớn, bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng đến gia đình nhưng là toàn thể xã hội. Bởi vì mục đích của hôn nhân vượt qua lợi ích và vui thú của hai người nam nữ và là một điều rất quan trọng trong chương trình sáng tạo của Đức Chúa Trời, nên hôn nhân cần được quy hướng về Đức Chúa Trời và những mục đích cao cả của Ngài, thì mới giữ được sự hợp nhất trong gia đình.
“Kết hợp” hay “hiệp một” nghĩa đen có nghĩa là dính kết, nối kết, ràng buộc lại với nhau để trở thành một cũng giống như xi măng nối kết các viên gạch với nhau.
Chúa Giê-xu phán rằng: “Loài người không được phân rẽ”. Sự hiệp một trong hôn nhân rất thánh khiết và một khi chúng ta hiểu được sự thánh khiết đó, chúng ta có thể ý thức sự đau đớn và bi thảm của sự phân rẽ, chia cắt “hai con người đã trở nên một thịt”. Điều này sâu sắc hơn công thức toán học thông thường:Một cộng một bằng hai. Ở đây không phải là một người cộng với một người nhưng là một sự hòa hợp trọn vẹn về thân xác, tâm trí cũng như tâm linh.
Họ không còn là hai nữa nhưng chỉ là một.
Ý nghĩa sâu xa của tình yêu trong hôn nhân đó là “cả hai đã trở nên một”. Họ có thể có mục tiêu riêng cho mỗi người nhưng họ hoàn toàn chia xẻ cuộc sống và mọi vui buồn của nó. Sự hiệp một về mục tiêu và nỗ lực trong hôn nhân chắc chắn sẽ đạt đến kết quả.
Người phụ nữ sẽ ý thức rất rõ sự hiệp một trong hôn nhân khi người chồng của mình vì lý do nào đó phải xa nhà trong một thời gian. Lần đầu tiên tôi có kinh nghiệm này khi tôi phải rời Úc Châu để giảng tại một trường Kinh thánh ở Singapore. Tôi dắt theo Johnny và để nhà tôi Richard ở lại với ba cháu gái. Nhà tôi nói với tôi trên điện thoại: “Anh cảm thấy nhà cửa sao lạnh lẽo quá !” (mặc dù nhà tôi ở nhà cùng với ba đứa con khác).
Nhà tôi cũng thường xuyên phải đi xa. Một đôi vợ chồng trẻ đã có lần hỏi liệu tôi có thể quen với việc chồng vắng nhà hay không. Tôi trả lời họ rằng tôi không bao giờ có thể làm quen được với điều đó, nhưng chỉ có thể học để đối phó với khó khăn này. Và mặc dù nhiều năm tháng đã trôi qua, nhưng mỗi khi Richard vắng nhà, tôi vẫn có cảm giác trống trải dường như một phần nào đó của tôi đã bị mất đi.
Và nhà tôi thực sự là một phần của tôi !
Hôn nhân Cơ Đốc đúng nghĩa không phải chỉ là sự hiệp một về mặt thân xác (trở nên một thịt) nhưng cũng là sự thống nhất về mục tiêu và mục đích của đời sống nữa. Người phụ nữ không hề mất đi nhân cách của mình như nhiều người lầm tưởng. Thực ra sự hiệp một trong hôn nhân khiến cho cả người nam và người nữ đều đạt đến chỗ trọn vẹn khi người phụ nữ bằng lòng dâng hiến cho chồng và cũng nhận lại từ người chồng của mình.
Trong khi làm công tác khuyên bảo các phụ nữ, tôi thường nghe họ phàn nàn về những điều tiêu cực đã làm phai lạt mối liên hệ với người bạn đời của mình. Đợi cho họ trút hết tâm sự của mình, tôi mới hỏi: “ Hai anh chị đã gặp nhau trong cơ hội nào ? Điều gì đã khiến hai anh chị đến với nhau ?”.
Các chị em thường nhắc đến thuở ban đầu đầy hạnh phúc và đầy những điều tích cực. Nét mặt của các chị em dịu lại. Ánh mắt cũng nhẹ nhàng thay cho những buồn bã căng thẳng.
Rồi tôi hỏi các chị em về những điều tích cực trong hoàn cảnh hiện tại: “Chị có nhận thấy những đức tính nào đáng khâm phục nơi người chồng mình và những điểm tích cực trong hôn nhân của anh chị không ?”. Thật là bất ngờ khi các chị em bắt đầu nhận ra rằng những điều đẹp đẽ vượt qua những điều tiêu cực; và cùng hợp tác với chồng, họ có thể tiếp tục vun đắp cho hạnh phúc của mình. Hai người vẫn còn yêu thương gắn bó với nhau và bất cứ sự phân rẽ nào cũng đem lại những mất mát và đau khổ lớn lao.
Hôn nhân là một sự kết hiệp
Sự độc lập riêng tư của hôn nhân được nói đến trong Cựu ước và được Chúa Giê-xu nhắc lại: “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt” (SaSt 2:24).
Lìa bỏ để có thể kết hiệp, một điều tuyệt diệu biết bao !
Lời Chúa ở đây xác định chế độ hôn nhân một vợ một chồng, chung thủy, bền vững, hiệp một và độc lập. Hôn nhân là một mối liên hệ gắn bó dựa trên sự kết hiệp giữa người nam và người nữ. Vì thế, hôn nhân cũng có tính chất độc lập, nghĩa là mọi điều khác phải được đặt bên ngoài sự thân thiết riêng tư giữa vợ chồng. Hôn nhân nối kết hai con người đã bằng lòng phân rẽ khỏi những ràng buộc đối với cha mẹ, hoặc bất cứ mối liên hệ nào có thể xen vào mối liên hệ riêng biệt giữa họ với nhau trong hôn nhân.
Một khi Lời dạy của Chúa trong vấn đề này không được vâng theo thì sẽ đem lại biết bao nan đề và đau khổ.
Trong một số nền văn hóa, mối liên hệ với cha mẹ vẫn tiếp tục được duy trì và người ta đã không tuân theo sự dạy dỗ của Chúa. Tại một số quốc gia, người ta có thể thấy tình trạng đại gia đình sống chung với nhau và người mẹ chồng chính là người sắp xếp mọi việc trong nhà. Ở một số nước khác, lại có tình trạng người con trai cả nhận lãnh trách nhiệm săn sóc cha mẹ, và con dâu sẽ phải phụng dưỡng cha mẹ chồng và phải luôn chứng tỏ mình là người con dâu hiếu thảo.
Ngược lại theo văn hóa phương tây, thì đôi vợ chồng mới sẽ phải tự lo liệu cho gia đình của mình. Tuy nhiên những người thân trong gia đình hai bên có thể không sống chung trong nhà nhưng vẫn còn ràng buộc về mặt tình cảm. Chúng tôi đã nhận ra điều này khi tôi và nhà tôi rời Úc Châu để làm việc tại Singapore. Mấy người con rể của chúng tôi đã tâm sự rằng sau khi chúng tôi ra đi, con gái của chúng tôi suốt mấy tuần lễ đã trằn trọc mãi mới ngủ được !
Việc ra đi đã khiến chúng tôi buồn bã nhưng cũng giúp chúng tôi học được một điều. Những người con gái của chúng tôi cần phải nhận ra rằng đã là vợ chồng có nghĩa là đã trở thành một đơn vị độc lập. Gia đình là của đôi vợ chồng chứ không phải là của cha mẹ nữa.
Một người con gái của tôi đã viết: “Bỗng nhiên con đã nhận ra điều này. Con đã không còn thuộc về gia đình của ba má nữa. Bây giờ con đã có gia đình riêng của chính mình !”
Đây chính là quá trình của sự trưởng thành để đạt đến những mục đích của Đức Chúa Trời đối với gia đình. Sự độc lập là một điều cần thiết để xây dựng một gia đình mới.
Nếu cha mẹ đôi bên xâm phạm sự độc lập của gia đình mới thì sẽ không giúp cho đôi vợ chồng có thể gắn bó với nhau. Nếu người con trai cứ tiếp tục lệ thuộc vào ý kiến của cha mẹ mình mà không chú ý đến những nhu cầu của người vợ, thì chắc chắn sẽ đưa đến sự cay đắng, buồn giận. Nếu người vợ có thể gói quần áo trở về nhà cha mẹ mình bất cứ lúc nào, thì cũng không thể xây dựng hôn nhân tốt đẹp được.
Nếu người mẹ chồng cứ níu kéo lấy con trai của mình, thì người con đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chia xẻ thời giờ và tình cảm của mình dành cho hai người phụ nữ.
Khi người mẹ chồng dùng tình cảm để gây sức ép trên con mình thì sẽ khiến người con bị lệ thuộc và không trưởng thành được.
Tôi được biết một phụ nữ đã định ly dị với chồng chỉ vì người mẹ chồng luôn tạo áp lực trên con trai của mình. Người vợ trẻ luôn cảm thấy xúc phạm và không được tôn trọng nên đã sinh ra những tình cảm giận hờn và cay đắng. Vì muốn người chồng chú ý và thông cảm cho hoàn cảnh của mình nên người phụ nữ này đã lên tiếng đòi ly dị. Sau khi khuyên giải, tôi và người phụ nữ này đã cầu nguyện xin Chúa gỡ bỏ tất cả những rắc rối và cùng nhau nhìn thẳng vào vấn đề. Sau đó cô ta đã có thể đối diện với những cảm xúc của mình và xem xét một cách khách quan những giải pháp có thể đem ra bàn luận với chồng.
Những hoàn cảnh đáng tiếc như thế có thể đã không xảy ra nếu như những bậc cha mẹ và con cái đều biết vâng theo Lời dạy dỗ của Chúa. Tất cả những sự ràng buộc của cha mẹ về mặt tinh thần cũng như vật chất đều cần phải được dỡ bỏ thì hôn nhân mới có thể phát triển tốt đẹp được. Điều này không có nghĩa là cha mẹ thôi không còn yêu thương, giúp đỡ và thông cảm với con cái nữa, nhưng đúng hơn giữa cha mẹ và con cái cần phải bắt đầu một mối quan hệ mới dựa trên tình yêu thương, tình bè bạn và sự độc lập.
Hôn nhân là một điều thánh khiết
Là một người phụ nữ của Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải ý thức rõ sự thánh khiết của hôn nhân. Kinh thánh nhấn mạnh: “Điều gì Đức Chúa Trời đã kết hiệp, loài người không được phân rẽ”. Qua nếp sống hôn nhân và mối liên hệ tốt đẹp giữa vợ chồng thì gia đình có thể trở thành một lời làm chứng về sự cứu rỗi, tình yêu thương và sự tha thứ. Quả là một gương mẫu sáng chói về sự tha thứ và tình yêu thương khi vợ chồng hứa nguyện sẽ “chung thủy với nhau lúc vui cũng như lúc buồn, khi thịnh vượng cũng như lúc khó khăn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm”. Đôi vợ chồng cùng kinh nghiệm sự biến đổi trong đời sống qua sự chia xẻ tình yêu thương với nhau. Hai người sẽ cùng nhau vươn lên vượt qua tất cả bệnh tật, cô đơn, sự bất an và lòng ích kỷ để cảm thấy trong sâu thẳm nhất nhân cách của mỗi người được chữa lành và biến đổi. “Bởi vì, chồng không tin Chúa, nhơn vợ mình được nên thánh, vợ không tin Chúa, nhơn chồng mình tin Chúa được nên thánh”. (ICo1Cr 7:14)
Người chồng chưa tin Chúa sẽ có thể được thuyết phục “vì thấy cách ăn ở của chị em là tinh sạch và cung kính” (IPhi 1Pr 3:2). “Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn khuê phòng chớ có ô uế vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình” (HeDt 13:4).
Ngoại tình không những chỉ là xúc phạm người bạn đời của mình nhưng cũng là phạm tội đối với Chúa bởi vì ngoại tình có nghĩa là công khai phủ nhận sự dạy dỗ của Lời Chúa.
Nếu lời hứa nguyện không được tuân giữ thì chắc chắn sẽ dẫn đến sự nghi ngờ. Dầu có được tha thứ chăng nữa thì nó vẫn để lại bóng mây u ám của sự nghi ngờ về lòng trung thành của người vợ hay người chồng. Nỗi đau khổ của người phụ nữ là: “Tôi có thể tha thứ cho anh ấy nhưng lòng tin của tôi nơi anh ấy đã bị sứt mẻ !”. Chính vì thế luật pháp của Chúa đòi hỏi chốn khuê phòng không được ô uế. Bởi ân điển và tình yêu của Chúa mà người vợ hay người chồng đã bị xúc phạm có thể cứu vãn lại hôn nhân của mình.
Một phụ nữ đã đến gặp tôi để xin tham vấn về trường hợp của chị. Hoàn cảnh của chị không phải là cá biệt trong xã hội chị đang sống. Chị là vợ bé của một người đàn ông. Trước đó chị cùng với hai con nhỏ đã bị xua đuổi khỏi gia đình. Chồng chị đã sống với người phụ nữ khác. Chị gặp một người đàn ông khác và người này đã tỏ ra tử tế và chăm sóc cho chị. Cảm kích về điều đó, chị đã bằng lòng làm vợ bé cho người này. Tình trạng trên đã kéo dài trong nhiều năm, nhưng khi nghe Lời Chúa, chị cảm thấy bị cáo trách và quyết định phải thay đổi.
Đức Chúa Trời có thể ban cho chúng ta ân điển của Ngài để giúp chúng ta sửa chữa lại !
Trong thời Tân ước tội ngoại tình đã bị xét đoán một cách rất nặng nề.
Ở một số quốc gia, quan tòa có thể quyết định bỏ tù hay đánh đòn một cách công khai những người phạm tội ngoại tình. Tuy nhiên, ngày nay trên khắp thế giới việc ngoại tình đã được coi là một điều bình thường và được xã hội chấp nhận. Việc lạm dụng tình dục trong giới trẻ cũng đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Chính vì thế ở giữa vòng các Cơ Đốc nhân, thái độ đối với tính dục là vấn đề trở nên rất quan trọng. Chúng ta phải trở nên nhân chứng cho Chúa trong một thế giới suy đồi và phải rất cảnh giác trước mọi cám dỗ và tội lỗi liên quan đến tính dục.
Nhà tôi tỏ ra là một người đàn ông rất khôn ngoan. Trong thời gian chúng tôi quen biết nhau, nhà tôi phải đi học ở Canterbury còn tôi thì sinh sống ở Luân Đôn. Phương tiện chính để chúng tôi giữ liên lạc với nhau ấy là những bức thư rất dài và đầy ắp tâm sự. Lúc đó Richard là một mục sư trẻ còn tôi thì hãy còn là một Cơ Đốc nhân mới mẻ. Những lá thư chúng tôi viết cho nhau rất là lý tưởng và thuộc linh nhưng cũng rất thường khi Richard đã có những lời nhắc nhở rất thực tế.
Trong một lá thư anh ấy đã viết: “Em biết đó, em là một phụ nữ rất dễ thương và có một tính tình dễ mến. Mặc dầu chúng ta có thể nói rằng chúng ta sẽ chắc chắn giữ lời thề nguyện với nhau; tuy nhiên, trong cuộc sống chúng ta không tránh khỏi những giây phút cảm thấy một người nào đó cũng rất hấp dẫn. Điều đó không hẳn là phạm tội. Tuy nhiên ma quỷ rất tinh quái và nó rất khéo léo trong việc lợi dụng các hoàn cảnh để thực hiện ý đồ của nó. Cả anh và em, chúng ta đều có thể bị cám dỗ để nghĩ đến một người khác phái. Có thể có một lúc nào đó, do một yếu tố bất ngờ nào đó, chúng ta bỗng cảm thấy ai đó trở nên rất hấp dẫn đối với chúng ta. Vì thế điều quan trọng đối với chúng ta trước khi bước vào hôn nhân, ấy là phải cùng nhau quyết tâm chỉ dành riêng đời sống cho nhau mà thôi”.
Lúc đó có khi tôi đã nghĩ rằng người chồng sắp cưới của tôi quá lo xa. Cảm tạ Chúa, tôi và Richard đã và vẫn tiếp tục kinh nghiệm một mối liên hệ tình cảm càng ngày càng gắn bó với nhau hơn. Chúa đã gìn giữ chúng tôi không rơi vào sai lầm. Sau này khi càng chín chắn hơn, tôi càng cảm tạ Chúa nhiều hơn vì Ngài đã ban cho Richard sự khôn ngoan và sáng suốt.
Chúng ta rất có thể gặp những người mà chúng ta cảm thấy thích cũng như muốn chuyện trò với họ. Điều này là tự nhiên và bình thường chừng nào mà những cảm xúc dễ thương đó chưa trở thành những tư tưởng lãng mạn và không trong sạch.
Nếu chúng ta bước vào một mối liên hệ thân thiết với một người nào khác hơn là người bạn đời của mình thì điều đó đáng gọi là lừa dối. Vậy nên chúng ta cần tránh đừng bước vào những mối liên hệ hoặc bắt đầu những tình cảm mà chúng ta biết rõ rằng chẳng đi đến đâu cả.
Việc ngoại tình dù chỉ là trong tư tưởng cũng đã là tội lỗi và sẽ phá hủy tất cả những gì là tốt đẹp và phá đổ hạnh phúc mà Chúa đã thiết lập cho hôn nhân.
Vì vậy, phụ nữ chúng ta cần phải hết sức cảnh giác về mối quan hệ với người khác phái. “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ”. Chúng ta cần phải có suy nghĩ và thái độ đúng đắn (RoRm 16:16): “Hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau”. Kinh thánh chép như vậy. Tuy nhiên một khi cái hôn không còn là thánh khiết nữa thì phải dừng lại !
Chúa Giê-xu phán rằng nếu một người nam nhìn một người nữ mà trong lòng động lòng tham muốn thì người đó đã phạm tội ngoại tình. Thế còn đối với phụ nữ thì sao ? Phụ nữ cũng giống như vậy. Trong công tác tham vấn cho các phụ nữ tôi được nghe nhiều chị em, kể cả những chị em trong Hội thánh tâm sự rằng đã bị cám dỗ về điều này và chúng tôi đã cầu nguyện xin Chúa giải cứu khỏi điều đó.
Một người phụ nữ khôn ngoan sẽ nhận biết khi nào những mối liên hệ xã giao bắt đầu có vấn đề. Người phụ nữ cần nhận biết rằng nếu muốn giữ sự thánh khiết của hôn nhân thì không thể thỏa hiệp được. Phụ nữ chúng ta cần phải có thái độ đoan trang – điều này bao gồm sự trong sạch, đức độ, giữ gìn phẩm hạnh, không gây cớ vấp phạm hoặc cố tình quyến rũ người khác.
Người phụ nữ tin kính Chúa không để một kẽ hở nào cho Satan cám dỗ !
Nhiều người cho rằng quan hệ nam nữ ngoài hôn nhân chỉ đơn giản là thỏa mãn nhu cầu. Họ có thể nói: “Tôi vẫn yêu vợ tôi” hoặc “Tôi vẫn yêu chồng tôi nhưng…”. Việc tìm kiếm khoái lạc tính dục ngoài hôn nhân chỉ có thể định nghĩa là tội lỗi. Thật đáng buồn khi ý định của Đức Chúa Trời về một hôn nhân thánh khiết đã bị phá hỏng chỉ bởi vì con người ham muốn những khoái lạc xác thịt ngoài hôn nhân.
Trong bài giảng trên núi Chúa Giê-xu đã đề cập đến vấn đề ngoại tình. Ngài đã đề cập đến cả việc ngoại tình cụ thể lẫn việc phạm tội trong tâm trí. Ngài đã phán nếu chúng ta nuôi dưỡng những dục vọng xác thịt trong tâm trí thì đã là phạm tội rồi. Trong Mat Mt 15:19 và Mac Mc 7:21 Chúa Giê-xu liệt kê tội ngoại tình chung với các tội lỗi khác và xác nhận rằng tội lỗi xuất phát từ tấm lòng. Ngài đã bày tỏ ý muốn của Cha Thiên thượng về một hôn nhân bền vững và chung thủy cả trong tư tưởng cũng như trong hành động.
Dĩ nhiên người phụ nữ vẫn có thể gặp gỡ với người khác phái và có mối liên hệ tốt đẹp như những người bạn tuy nhiên những mối liên hệ này không được phá vỡ tình cảm đối với người chồng. Những mối liên hệ tình cảm được nói đến ở đây thường xảy ra trong sở làm. Vậy nên chúng ta cần phải rất cảnh giác trước những cám dỗ. Ma quỷ như sư tử rống rình mò muốn cắn nuốt những gì là tốt đẹp.
Một khi chúng ta hiểu rằng liên hệ xác thịt chỉ được dành cho hôn nhân thì chúng ta cần hết sức thận trọng trong các mối quan hệ. Một mối tình vụng trộm là một điều xấu xa, ích kỷ và phá hoại. Chỉ một phút chiều theo dục vọng chúng ta sẽ có thể phá hỏng cả đời sống của mình và của những người khác.
Có những dấu hiệu gì báo cho biết những mối quan hệ như thế bắt đầu trở nên nguy hiểm:
Nếu đó là những mối quan hệ bí mật và người chồng không hề hay biết về điều đó
Khi những cuộc gặp gỡ càng ngày càng trở nên hấp dẫn và hai người mong gặp nhau thường hơn
Khi một người bắt đầu so sánh người bạn mới của mình với chồng
Khi bắt đầu suy nghĩ mơ mộng về người bạn mới quen
Khi người chồng bị loại ra ngoài mối liên hệ này
Khi bạn cảm thấy bối rối và chú ý đến mình nhiều hơn khi có mặt người đó
Dầu “lòng con người là dối trá hơn mọi sự” nhưng không có ai dám gọi một cuộc tình vụng trộm là một tình bạn hoặc tình đồng nghiệp. Những hành động mờ ám sẽ dẫn đến đổ vỡ và đau khổ. Để trở thành người phụ nữ của Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải giữ tình cảm gắn bó với người bạn đời duy nhất của mình và giữ mối quan hệ đúng đắn với những người khác.
“Tình bè bạn thân hữu ngoài hôn nhân cần phải bảo đảm rằng sẽ không gây trở ngại gì cho mối quan hệ vợ chồng. Có nghĩa là thời giờ, sự quan tâm, chăm sóc và tình cảm giữa hai vợ chồng nhất thiết không được tách rời.
Mối quan hệ bạn bè có thể đem lại một số lợi ích nhưng cũng hàm chứa một số nguy hiểm. Một khi mối quan hệ thân hữu giữa những người khác phái trở nên thường xuyên thì chúng ta cũng cần gia tăng sự cảnh giác, kỷ luật và sự tôn trọng đối với người bạn đó”ù.
Nếu một phụ nữ ngoại tình với một người bạn của mình thì người phụ nữ đó đã phá hủy chính tình bạn quý báu đối với người đó.
Vì vinh hiển Chúa, chúng ta cần trung thành với lý tưởng mà Chúa đã thiết lập.
Nếu chúng ta lỡ thất bại trong vấn đề này – mặc dầu mới chỉ là những ước muốn tội lỗi chứ chưa vi phạm cụ thể – chúng ta cần đến với Chúa trong sự ăn năn. Một số chị em có thể đưa ra câu hỏi liệu có nên thổ lộ những yếu đuối với người chồng của mình hay không. Điều này tùy thuộc vào việc giữa vợ chồng có sự thông cảm và sự hiểu biết nhau như thế nào và điều đó có đem lại ích lợi hay không. Trút bỏ gánh nặng tội lỗi của mình bằng cách gây tổn thương cho người khác là một điều không nên. Tuy nhiên nếu người chồng là một Cơ Đốc nhân trưởng thành thì có thể cầu nguyện và giúp đỡ người vợ cûa mình chiến thắng những cám dỗ đó. Nếu chúng ta được đầy dẫy Thánh Linh thì chắc chắn sẽ không làm theo “những ưa muốn của xác thịt”.
Chúng ta cần luôn luôn cầu nguyện xin Chúa rửa sạch lòng chúng ta và làm chúng ta tinh khiết.
Trong trường hợp đã phạm tội ngoại tình một cách cụ thể thì có lẽ rất cần phải thú nhận với người chồng. Bởi vì sẽ đau khổ hơn rất nhiều khi người chồng biết được chuyện đó qua một người khác. Chấp nhận tha thứ cho người vợ hay người chồng phạm tội ngoại tình là một thách thức lớn đối với tình yêu. Nếu chúng ta thật lòng ăn năn, Chúa sẽ tha thứ và hàn gắn hôn nhân của chúng ta.
Trong một số trường hợp, người phụ nữ có thể nói rằng mình đã tha thứ cho người chồng ngoại tình, nhưng lại lợi dụng thất bại của người chồng để luôn gây sức ép khiến người chồng phải ý thức rằng mình đã sai lầm. Những cuộc hôn nhân như vậy có thể dẫn đến tan vỡ. Chúng ta luôn cần sự tha thứ nếu chúng ta muốn duy trì mối quan hệ với nhau.
Một đứa con của chúng tôi đã dạy cho tôi hiểu rằng thế nào là thật sự tha thứ. Con gái tôi đã làm một điều sai trật. Sau đó đã đến xin lỗi và xin tôi tha thứ. Nó nói với tôi: “Mẹ hãy hứa với con rằng mẹ sẽ không bao giờ nhắc lại điều này nữa !”. Tôi hiểu con tôi muốn nói như thế này: “Xin mẹ đừng đay nghiến, trách móc nữa. Xin mẹ đừng nhắc lại chuyện này !”
Phụ nữ chúng ta thường hay có thói quen nhắc lại lỗi lầm mỗi khi có chuyện cãi vã. Đã bằng lòng tha thứ thì tha thứ cho hoàn toàn như Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Vết dơ tội lỗi cần phải được tẩy sạch nếu như người đó chứng tỏ rằng không còn tiếp tục phạm tội nữa. Thế nhưng, có một số người lại cho rằng họ có thể tha thứ nhưng không thể quên lỗi lầm được. Vâng, có thể là chúng ta không quên được, nhưng một khi đã tha thứ thì nếu có nhớ lại cũng không nên tiếp tục cay đắng trong lòng.
Tha thứ nghĩa là vẫn còn nhớ nhưng không còn cay đắng nữa.
Sự tha thứ thật chính là biểu hiện của tình yêu. Như thế là thấu hiểu được nguyên tắc của Đức Chúa Trời: “Hãy tha thứ cho nhau như Ta đã tha thứ cho các ngươi”. Chúng ta đem lòng thương xót tha thứ mà Chúa đã dành cho chúng ta để đối xử với người khác và qua đó chúng ta phản ánh tình thương và lòng tha thứ của Ngài.
Hôn nhân chính là hình bóng về tình yêu thương của Chúa Cứu thế (Eph Ep 5:23-33). Sự cao đẹp của hôn nhân là do sự thánh khiết của nó, thánh khiết bởi vì Đức Chúa Trời đã thiết lập hôn nhân. Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết đã thiết lập nên mối liên hệ thánh khiết giữa người nam và người nữ. Những Cơ Đốc nhân đã được tái sanh đều kinh nghiệm được tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu thế. Trong hôn nhân, khi hai người nam nữ đón nhận tình yêu thương của nhau thì sự đón nhận đó hoàn toàn vô điều kiện.
Trong mối liên hệ yêu thương, tình trạng thuộc linh của người tín đồ sẽ được tăng trưởng bởi vì họ không chỉ dành tình thương cho nhau nhưng cũng chia xẻ tình thương với gia đình và bạn hữu nữa. Sự hiểu biết sâu xa hơn về tình yêu thương sẽ giúp họ nhận thức tình yêu thương của Chúa được bày tỏ qua tình cảm của họ dành cho nhau. Sự hiểu biết và ý thức như thế sẽ khiến đôi nam nữ bước vào mối liên hệ sâu xa hơn với Đức Chúa Trời là nguồn tình yêu.
Khi yêu là chấp nhận dấn thân và khi bước vào hôn nhân cũng có nghĩa là phải dấn thân, nhưng đó là điều phù hợp với ý muốn và chương trình của Đức Chúa Trời. Việc sống chung ngoài hôn thú là trái với luật pháp của Đức Chúa Trời. Người phụ nữ chấp nhận sự sống chung như vậy là điều thật đáng tiếc vì người phụ nữ cần sự an ninh và mối quan hệ như vậy chỉ xây dựng trên cát mà thôi.
Sự kết ước với nhau trong hôn nhân Cơ Đốc sẽ đem đến sự an ninh và nền tảng tốt đẹp cho mối quan hệ bền vững. Tình trạng an ninh này sẽ giúp vợ chồng có thể chia xẻ gánh nặng và giải quyết những nan đề, loại bỏ sự sợ hãi, lo lắng và hiểu lầm. Một cuộc hôn nhân như thế sẽ đưa đến kết quả là tình yêu bền vững, tình bạn sâu xa và sự trưởng thành.
Hôn nhân có bền chặt hay không là tùy thuộc vào sự cam kết, hứa nguyện của cả vợ lẫn chồng.
Sự cam kết dấn thân trong hôn nhân cũng giống như sự cam kết của Chúa Giê-xu đối với Hội thánh. Ngài đã bằng lòng hiến cả mạng sống mình để cứu chuộc Hội thánh. Sự sống cứu độ của Chúa Giê-xu được biểu hiện qua thân thể của Ngài là Hội thánh. Hôn nhân được trình bày một cách đẹp đẽ nhất qua hình ảnh Đấng Christ và hôn thê của Ngài tức là Hội thánh. Người chồng phải săn sóc người vợ của mình như Đấng Christ đã săn sóc Hội thánh. Mục đích của Chúa Giê-xu đối với Hội thánh là: “đặng tỏ ra Hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài”. (Eph Ep 5:27).
Điều này nói lên sự chăm sóc, yêu thương, trìu mến, đề cao và tôn trọng. Hội thánh là sự đầy đủ của Đấng Christ như thế nào thì người vợ, người chồng cũng bổ túc cho nhau như thế.
Sự đẹp đẽ của hôn nhân là ở chỗ con người có thể đạt đến mục tiêu cao cả nhất bởi vì Đức Chúa Trời đã thiết lập như vậy. Một khi những nguyên tắc của hôn nhân Cơ Đốc được tôn trọng và vâng theo, thì mối quan hệ vợ chồng sẽ trở nên rất đẹp đẽ, bởi vì sự liên kết đó là lời làm chứng về Chúa Giê-xu và tình yêu thương của Ngài đối với Hội thánh là thân thể Ngài. (more…)

Unknown

Những Bài Viết Trong Mục Nầy