Home » Thư Viện » Học Kinh Thánh » Các Sách Tiểu Tiên Tri – NAHUM

Các Sách Tiểu Tiên Tri – NAHUM

NAHUM – TIÊN TRI CỦA SỰ HỦY DIỆT NINIVE

Khi đọc sách Nahum bạn sẽ thấy về một vài mặt hoàn toàn khác với các sách chúng ta đã học. Đây không phải là một lời kêu gọi ăn năn, mà là một sứ điệp của sự hủy diệt. Tuy nhiên, nó cũng là một sứ điệp an ủi, bởi vì nó chỉ ra sự sụp đổ của dân tộc nầy là dân đã từng gây ra quá nhiều đau khổ cho hết thảy các dân tộc khác trong vùng Trung Đông. Cái ách của Asyri phải bị bẻ gãy. Ninive kiêu ngạo, thủ đô của nó, sẽ phải gặt điều nó đã gieo. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy những sự độc ác kinh khiếp của nó và phải trừng phạt nó.
Trong các bài học trước chúng ta đã thấy Asyri luôn luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng trong bối cảnh, đầy quyền lực, hung ác, độc đoán, luôn xâm lược và chinh phục hết nước nầy đến nước khác trong khi xây dựng một đế quốc trên thế giới. Ysơraên và Giuđa đều bị Asyri bắt cống thuế nặng nề. Không đóng thuế nỗi thì họ sẽ đem quân vào xâm lăng, các thành bị cướp bóc còn dân chúng hoặc bị giết chết hoặc đem đi như các phu tù để làm nô lệ.
Đức Chúa Trời đã sai các tiên tri Ngài đến để cảnh cáo Ysơraên và Giuđa rằng nếu họ không ăn năn họ sẽ bị lưu đày. Ysơraên không chịu ăn năn và đã bị tiêu diệt với tư cách một dân bởi người Asyri. Giuđa trở lại cùng Đức Chúa Trời và được cứu một cách kỳ diệu cả hai lần khỏi tay đội quân của Sanchêríp.
Gần năm mươi năm đã trôi qua kể từ thời điểm ấy. Bấy giờ Nahum bắt đầu chức vụ của mình. Đức Chúa Trời đã dung chịu sự kiêu ngạo và độc ác của Asyri một thời gian dài, nhưng đã đến lúc nó phải nhận lãnh cùng một loại đối xử nó đã dành cho người khác. Nahum mô tả sự hủy diệt của Ninive bằng loại thư sống động nhất, mạnh mẽ nhất trong tất cả các loại văn chương.

Giới Thiệu Sách Nahum
Tác giả và Niên Đại
Bối Cảnh Lịch Sử
Tính Độc Đáo và Sứ Điệp
Cơn Thạnh nộ của Đức Giêhôva
Sự Hình Phạt và Sự Giải Cứu
Chiến Trận của Ninive
Mùa Gặt của sự Gian ác
Đức Chúa Trời Được Mặc Khải Qua Nahum

Khi học xong bài nầy bạn có thể:
• Nhận ra các biến cố quan trọng liên quan đến các vua Asyri và những cách đối xử của họ với Ysơraên và Giuđa.
• Giải nghĩa các lời tiên tri của Nahum trong ánh sáng bối cảnh lịch sử và sự ứng nghiệm của nó.
• Nhận biết quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trong việc dấy lên hoặc hạ xuống các nước và nhìn thấy bàn tay của Ngài trong các sự việc trên thế giới ngày nay.
• Dùng sách Nahum để khích lệ chính mình và người khác rằng, Đức Chúa Trời, đến thời điểm của Ngài, sẽ hủy diệt điều ác và thiết lập sự công bình trên đất.

  1. Đọc hết sách Sôphôni cách cẩn thận. Đọc sách của Hailey từ trang 248-270 và các đoạn Kinh Thánh kèm theo khi được yêu cầu trong phần khai triển bài học.
    2. Nghiên cứu kỹ lưỡng phần khai triển bài học theo thủ tục bình thường. Lưu ý những điểm giống nhau và khác nhau giữa Nahum với các tiểu tiên tri khác.
    3. Làm bài tự trắc nghiệm và kiểm tra lại các câu trả lời của bạn.

báo trả
xác thịt
sự yên ủi
quỷ quyệt
tà dâm
sự phẫn nộ

GIỚI THIỆU SÁCH NAHUM
NaNk 1:1-3:19 Hailey 248-252
Tác giả và Niên Đại
1:1 Hailey 248-250

Các học giả đã đưa ra nhiều ức đoán về thời điểm Nahum bắt đầu và kết thúc chức vụ của ông. Chúng ta biết rằng điều ông viết trong 3:8 về thành Nô của Êdíptô (cũng còn được gọi là Thebes và Nôamôn) là điều xảy ra sau khi nó bị chinh phục vào năm 663 TC. Tất cả những lời báo trước của Nahum về sự sụp đổ của Ninive trong tương lai, đã xảy ra vào năm 612 TC đều cho thấy các lời báo trước đó đã được viết ra trước niên đại nầy.
Việc sứ điệp của Nahum viết cho Giuđa không chứa đựng những lời lên án tội lỗi dường như cho thấy nó được ban bố ra trong hoặc không lâu sau cuộc phục hưng và cải cách lớn dưới đời Giôsia (627-621 TC). Những lời của Nahum trong 1:15 “Hỡi Giuđa, ngươi khá giữ kỳ lễ mình và trả sự hứa nguyện của mình hoàn toàn phù hợp với năm thứ mười tám thuộc đời trị vì của Giôsia (621 TC) ngay sau khi Giuđa làm mới lại những lời hứa nguyện của họ với Đức Chúa Trời trước hoặc vào lúc có kỳ Lễ Vượt Qua rất lớn trong cùng năm đó (IIVua 2V 23:1-37). Thật ra, rất có thể Nahum rao ra sứ điệp nầy để yên ủi Giuđa vào một trong các kỳ nhóm hiệp như vậy của quốc gia! Hailey xem khoảng thời gian từ 630-621 TC như là giai đoạn tiên tri Nahum thi hành chức vụ.
Chúng ta biết rất ít về bản thân của Nahum. Song chúng ta biết rõ rằng Đức Chúa Trời đã ban cho ông một khải tượng về điều sẽ xảy ra cho Ninive và Ngài đã soi dẫn các lời ông viết. Rõ ràng ông yêu mến Giuđa và tận tụy với di sản tôn giáo của họ. Dưới sự thần cảm của Đức Thánh Linh, ông đã bày tỏ tình yêu đó qua sứ điệp yên ủi, nâng đỡ, hy vọng mà Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài. Kẻ bắt bớ phải bị hủy diệt! Đức Chúa Trời là nơi nương náu của họ (NaNk 1:7) và không bao giờ họ còn phải run rẩy trước những sự đe dọa của Ninive nữa.
Nahum tự gọi ông là Êncôtsít. Một số người cho rằng điều nầy ám chỉ đến ngôi làng nhỏ Êncốt ở phía đông sông Tigris và không xa Ninive lắm. Ngày nay làng ấy được gọi là Alkush là một làng Cơ Đốc có lẽ có phần mộ của Nahum (nhưng phần mộ được cho thấy lại là một hộp bằng thạch cao hiện đại). Theo lời truyền khẩu ấy, Nahum hay gia đình ông, đã bị đem đi giữa vòng các phu tù khác từ Giuđa đến đấy trong một các cuộc xâm lăng của người Asyri.
Jêrume (340? 420 SC) là một giáo phụ và là một người dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh, tin rằng Nahum xuất thân từ một làng nhỏ thuộc xứ Galilê gần thành Cabênaum, có lẽ Nahum là người thành lập Cabênaum, hoặc thành nầy đã được đặt tên theo ông. Tên của nó có nghĩa là “làng của Nahum”. Nếu ông xuất thân từ làng ấy thì có vẻ như ông đã di trú đến Giuđa. Nếu ông đã ở đó vào lúc có cuộc lưu đày thì có lẽ ông đã khích lệ những người cùng chịu cảnh phu tù và gởi quyển sách có sự hiện thấy của mình về cho Giuđa, quê hương của ông, bởi vì sứ điệp được viết cho Giuđa. Dầu ông ở đâu đang khi viết sứ điệp thì bức tranh đầy ấn tượng về sự sụp đổ của thành Ninive vẫn là một kiệt tác về thơ ca.
1. Nahum tự nhận mình là “người Elkoshite”. 3 điều sau đây được gợi ý như một lời giải thích khả thi về Nahum hoặc quê hương của ông?
a) Êncốt là một làng ở gần Ninive.
b) Êncốt là một tên khác của Ninive.
c) Nahum là một người nước ngoài đã di trú đến Giuđa từ một xứ sở xa xôi.
d) Êncốt ở gần Cabênaum.
e) Cabênaum được đặt theo tên của Nahum.
2. Niên đại nào sau đây được xem là có khả năng hơn hết của việc viết sách Nahum.
a) 630 TC
b) 627 TC
c) 621 TC
d) 612 TC
3. Lý lẽ gì có vẻ hậu thuẫn cho niên đại đề xuất cho sách tiên tri của Nahum?
……………………………………………………………………………………………………………………………………
4. Vì sao tên gọi của Nahum có vẻ thích hợp với sứ điệp của ông?
……………………………………………………………………………………………………………………………………
Bối Cảnh Lịch Sử
Hailey 250-251
Các lời tiên tri của Nahum nghịch cùng Ninive không nổi lên từ lòng thù ghét xác thịt đối với những kẻ thù của Giuđa. Đức Chúa Trời ban các lời nầy để khẳng định các lời hứa trong giao ước của Ngài rằng Giuđa đang được làm cho mới lại trong mối quan hệ với Ngài. Ngài sẽ chiến đấu và đánh bại các kẻ thù của dân sự Ngài! Đức Chúa Trời đã nhiều lần khẳng định các lời hứa của Ngài. Sau đây là một số trường hợp mà Ngài phán với dân sự Ngài qua các giao ước:
1. Với Ápraham “Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi” (SaSt 12:3).
2. Với Ysơraên qua Môise “Nếu các ngươi nghe theo tiếng phán của Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành…Đức Giêhôva sẽ làm cho kẻ thù nghịch dấy lên cùng ngươi bị đánh bại trước mặt ngươi” (PhuDnl 28:1, 7).
3. Với Giuđa qua Sôphôni “Đức Giêhôva sẽ hủy diệt Asyri, làm cho Ninive hoang vu (SoXp 2:13).
Ysơraên và Giuđa đều đã bội giao ước vì hầu việc các thần khác và phải gánh chịu các hậu quả. Các vua Asyri khi xây dựng đế quốc, đã bắt phục các nước thuộc vùng Trung Đông. Hết thảy các nước nầy, kể cả Ysơraên và Giuđa đều phải cống nạp các thứ thuế phi lý và nặng nề cho Asyri. Nếu từ chối, Asyri sẽ mang quân đến đánh. Các thành bị cướp bóc, dân chúng bị giết chết hoặc bắt làm phu tù.
Trong nhiều thế kỷ, Asyri đã hà hiếp các dân trong vùng Trung Đông. Thật là một sự gian ác quỷ quyệt. Các vua bị bắt làm phu tù bị bỏ vào cũi và phơi ra cho họ nhạo cười. Một số bị móc mắt, một số bị chặt tay. Một số phu tù phải mang đầu của các chiến hữu đã chết trong một đám rước. Các vua Asyri khoe khoang về các cuộc tàn sát hàng loạt của họ và các cuộc phá hủy cướp bóc các thành.
Dầu vậy, Đức Chúa Trời vì lòng thương xót đã sai Giôna đến Ninive và đã cứu cả một thế hệ ở tại đó. Nhưng Asyri đã trở lại đường lối gian ác của họ. Đã hai lần Giuđa được cứu khỏi quân đội của Sanchêríp bởi tay của Đức Chúa Trời. Vua Sanchêríp đã phạm phải sai lầm khi khoe khoang rằng ông mạnh hơn Đức Chúa Trời. Ông ta tuyên bố rằng Đức Chúa Trời không còn có thể giải cứu Giuđa khỏi sức mạnh của ông ta cũng như các thần của các dân khác đã không giải cứu được họ. Chỉ trong một đêm một thiên sứ của Đức Giêhôva đã giết 185.000 quân lính của Asyri đang bao vây Giêrusalem. Đức Chúa Trời đã chứng minh rằng Ngài có thể cứu dân Ngài! Và cuối cùng thì giờ phải gặt hái những điều dân Asiry đã gieo đã đến, như Đức Chúa Trời đã mô tả qua Nahum.
Bảng liệt kê nầy (dựa trên Tenney trang 79) tổng kết các vua Asyri, cách họ đã đối xử với Ysơraên và Giuđa, và cuộc chinh phục Asyri của Babylôn. Tất cả các niên đại đều xảy ra trước Công Nguyên.
1. Sanhmanase III (858-824) Đánh bại Aháp (Ysơraên) và Syri; áp đặt việc cống thuế trên vua Giêhu (Ysơraên).
2. Shamshi – adad V (824-811).
3. Adad – Nirari III (810-783).
4. Sanhmanase IV (783-773) Ninive ăn năn trước sứ điệp của Giôna.
5. Ashur – dan III (772-755).
6. Ashur – Nirari V (754-754).
7. Tiếcla – philesê III (744-727) chinh phục một số tỉnh thuộc Ysơraên; bắt Ysơraên và Giuđa cống thuế.
8. Sanhmanase V (726-722) Vây Samari trong ba năm.
9. Sạcgông III (721-705)- Chiếm Samari; Phá hủy nó vào năm 721; bắt 27.000 người Ysơraên sang Asyri.
10. Sanchêríp (704-681) Hai lần xâm lăng Giuđa, khoe khoang nghịch cùng Đức Chúa Trời; 185.000 binh lính bị thiên sứ giết chết.
11. Esarhaddon (680-669).
12. Ashurbanipal (668-633) Manase bị dẫn tù, được trả về.
13. Ashur – eti – ilani (632-629).
14. Sin shum lishir (628-624) Cuộc dấy loạn của Babylôn vào năm 625; lời tiên tri của Sôphôni.
15. Sin – shar – ishkum (623-612) Lời tiên tri của Nahum (621?) Babylôn chiếm đóng và hủy diệt Ninive (612).
16. Ashur uballit (611-608) Babylôn nắm quyền kiểm soát đế quốc Asyri.
5. Asyri đã hà hiếp hoặc đe dọa Giuđa và Ysơraên trong khoảng bao lâu.
a) 200 năm.
b) 300 năm.
c) 400 năm.
d) 500 năm.
6. Dựa trên Hailey trang 250-251, 2 điều nào sau đây mô tả đúng người dân của đế quốc Asyri.
a) Những người ngoại quốc không có bà con di trú đến đấy để buôn bán hoặc làm giàu.
b) Lớn lên và phát triển từ một bộ tộc đoàn kết chặt chẽ đã cư trú ở xứ nầy nhiều thế kỷ.
c) Những người tốt bụng và can đảm đã bảo vệ lãnh thổ của họ khỏi các kẻ thù.
d) Nổi tiếng vì sự tàn ác cực kỳ đối với các nạn nhân của họ.
7. Ghép cặp mỗi quốc gia (phải) với mối liên hệ của nó với Asyri (trái).
…a Phải chịu các cuộc xâm lược và phải cống thuế cho Asyri.
…b Bị đưa sang đế quốc Asyri vào năm 612 TC.
…c Bị chiếm và bị hủy diệt bởi người Asyri vào năm 721 TC.
Tính Độc Đáo và Sứ Điệp
Hailey 249, 251-252
Nahum khác với các sách mà chúng ta đã học trong một số cách. Không vị tiên tri nào gọi lời tiên tri của họ là một sách (NaNk 1:1), tuy nhiên sự khác biệt chủ yếu nằm trong nội dung sứ điệp. Giống như Ápđia và Giôna, sứ điệp nầy nói về sự sụp đổ của một dân thù nghịch. Nhưng Giôna đã rao giảng trong thành Ninive cho Ninive. Còn sứ điệp của Nahum khoảng 160 năm sau đó, về thành Ninive cho Giuđa. Sự nhấn mạnh của sứ điệp là yên ủi Giuđa qua sự giải cứu khỏi kẻ hà hiếp. Chúng ta đặc biệt lưu ý sự vắng bóng của bất cứ lời buộc tội nào nghịch cùng Giuđa. Không hề có lời kêu gọi ăn năn nào.
Chủ đề của sách Nahum – sự hủy diệt thành Ninive – nhấn mạnh cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi. Chúng ta nhìn thấy sự công bình của Đức Chúa Trời qua việc để cho các dân tộc khác báo lại cho Ninive điều nó đã xử với họ. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời lên án tội vô luân, dối trá, hung bạo, mê tham quyền hành, ham mê giàu có, dã man, cướp bóc, bắt các dân làm nô lệ và thờ hình tượng. Sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên Ninive vì các tội ấy phải là một sự cảnh cáo cho chúng ta ngày nay.
Đức Chúa Trời không thích hình phạt loài người “Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, nhưng muốn cho mọi người đều ăn năn” (IIPhi 2Pr 3:9). Song Đức Chúa Trời của sự công bình phải hình phạt tội lỗi. Sự thánh khiết của Ngài phản ứng chống nghịch với tội lỗi.

ĐỨC CHÚA TRỜI THÁNH KHIẾT HÌNH PHẠT TỘI LỖI
NaNk 1:1-3:19
8. Điều nào sau đây là chủ đề căn bản của sách Nahum?
a) Yên ủi kẻ bị hà hiếp.
b) Sự giải cứu khỏi tội lỗi.
c) Sự công bình và thương xót của Đức Chúa Trời.
d) Sự hủy diệt của thành Ninive.
9. Vì sao Nahum lại rao giảng về Ninive ở tại Giuđa?
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
10. Những việc làm của Ninive và các phản ứng của Đức Chúa Trời cho thấy nguyên tắc chung cơ bản nào trong các bài học trước liên quan đến các dân tộc và cá nhân?
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
CƠN THẠNH NỘ CỦA ĐỨC GIÊHÔVA
1:1-8 Hailey 253-255
Sáu từ mạnh trong Nahum mô tả những cảm nhận và phản ứng của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi của thành Ninive là: Ghen, báo thù, thạnh nộ (1:2) sự nóng giận, lửa, tức giận (1:6). Nhưng Nahum tỏ rõ rằng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời được làm ngang bằng bởi lòng thương xót của Ngài: “Đức Giêhôva là tốt lành, là đồn lũy hoạn nạn và biết những kẻ ẩn náu nơi Ngài” (1:7). Lòng nhân từ và thương xót của Ngài kiềm giữ và kiểm soát cơn thịnh nộ của Ngài. Ngài không tức khắc đánh hạ nghịch cùng những kẻ làm điều sai trái. Nhưng giờ đến, những kẻ làm điều sai trái phải được sửa ngay lại, tội phạm phải bị hình phạt. Sự nhơn từ của Đức Chúa Trời đòi hỏi phải thi hành sự công chính, báo trả điều sai trái.
Sự báo thù của Đức Chúa Trời khác với của loài người. Sự trả thù của con người thường bị thống trị bởi lòng vui sướng muốn làm tổn hại những kẻ đã làm khổ mình. Cơn tức giận của người bộc phát và khống chế người ấy thay vì người ấy kiểm soát lòng giận của mình. Có biết bao nhiêu kẻ phạm tội giết người trong giây phút không kiềm giữ được cơn giận của họ để rồi về sau phải hối tiếc cay đắng vì hành động của họ! Còn cơn giận của Đức Chúa Trời không nóng vội, không ích kỷ, không vượt ra ngoài sự kiểm soát của Ngài. Ngài là Đấng “chậm giận” (1:3), nhưng sự báo trả công bình của Ngài được chứng tỏ qua luật mùa gặt; mỗi người, mỗi quốc gia phải gặt lấy những gì họ đã gieo!
Lòng ghen của Đức Chúa Trời là công bình, nổi lên từ tình yêu Ngài dành cho dân sự cũng như ý muốn che chở bảo vệ họ. Cơn giận của Ngài bùng lên nghịch cùng dân sự Ngài khi các tà thần giả dối thay thế vị trí của Ngài trong tình yêu của họ. Ngài phẫn nộ đối với những kẻ tìm cách đưa dân sự lạc xa khỏi Ngài và khỏi sự vui mừng đời đời mà Ngài ban cho.
Nahum hỏi rằng “Ai đương nổi sự nóng giận Ngài?” (1:6). Từ nóng ở đây mang ý nghĩa của độ nóng vô cùng, độ nóng làm kim loại nóng trắng. Trong 1:3-5 chúng ta thấy trước cơn nóng giận của Ngài, các núi rúng động, các đồi tan chảy, đất run rẩy! Điều nầy dẫn đến sự hủy diệt hầu đến của Ninive, song cũng chỉ ra thời điểm khi cả thế gian sẽ tan chảy trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ngài sẽ “hủy diệt những kẻ hủy diệt đất” và ban cho dân Ngài một chỗ ở đời đời trong “trời mới đất mới, là nơi ở của sự công bình” (xem IIPhi 2Pr 3:10-13; KhKh 11:15; 21:1-4).
11. Hãy viết vào chỗ trống từ ngữ mà Nahum đã dùng để cho thấy những cảm nhận hoặc phản ứng của Đức Chúa Trời trong mỗi tình huống nhất định.
a. Những cá nhân và các dân tộc phải gặt lấy điều họ đã gieo………………………………..
b. Độ nóng trắng của kim loại khiến các núi rúng động, các đồi tan chảy, và đất run rẩy………………………………………………………………………………………………………………………
c. Cơn giận nghịch cùng những kẻ để cho các tà thần thế chỗ của Đức Chúa Trời trong lòng yêu mến của họ.
d. Cơn giận nghịch cùng những kẻ tìm cách đưa dân sự lạc xa khỏi Ngài………………
12. Nhiều khi con người nghĩ rằng Đức Chúa Trời của Cựu ước là Đức Chúa Trời của sự thạnh nộ trong khi Đức Chúa Trời của Tân ước là Đức Chúa Trời của tình yêu. Bạn hãy so sánh NaNk 1:2-8 với KhKh 11:15-19; 16:1-18. Các khúc Kinh Thánh nầy cho thấy điều gì?……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………
SỰ HÌNH PHẠT VÀ SỰ GIẢI CỨU
NaNk 1:7-2:2 Hailey 251-252; 255-259
Chúng ta trở lại 1:7-8 như một lời tóm tắt và giới thiệu cho phần còn lại của đoạn nầy: Sự nhân từ và quan tâm của Đức Chúa Trời dành cho Giuđa được liên kết với sự đoán phạt nghịch cùng Ninive của Ngài. Ngài sẽ giải phóng Giuđa khỏi ách của Ninive (1:12, 13).
13. Câu 9 theo nhiều bản dịch được bắt đầu bằng câu hỏi “Các ngươi sẽ lập mưu gì nghịch cùng Đức Giêhôva?” Đối chiếu với Cong Cv 9:4-5. Điều đó dạy dỗ bài học nào sau đây?
a) Chiến cự cùng Đức Chúa Trời là điều dại dột.
b) Đức Chúa Trời muốn chúng ta bảo vệ Ngài để chống lại những kẻ bắt bớ Ngài.
c) Chiến cự nghịch cùng con dân Chúa cũng chính là đánh nhau với Đức Chúa Trời.
d) Những người chống nghịch Chúa sẽ gặt điều họ gieo.
Ninive lẽ ra phải biết rằng tốt hơn là chớ có gây chiến với dân sự của Đức Chúa Trời. Sanchêríp đã thử đánh họ và bị mất cả đội binh của ông (EsIs 37:1-38) Nahum muốn nói với Asyri và toàn thể dân Ysơraên, cả những kẻ lưu đày lẫn những người vẫn còn trong xứ, “Các ngươi nghĩ Đức Giêhôva là ai? Các ngươi há không biết rằng Ngài sẽ tiêu diệt những ai chống nghịch Ngài sao? Ngài có quyền xây dựng hoặc phá đổ các nước. Không gì là bất năng cho Ngài. Vì cớ Ninive âm mưu nghịch cùng Ngài, nên Ngài sẽ diệt sạch họ. Hoạn nạn từ Ninive đến cùng Giuđa sẽ không còn nữa”.
Ở một số vùng, dân cư vẫn còn dùng sào gai để ngăn chận thú vật hoặc những kẻ đột nhập. Các bụi gai khô thường được dùng để mồi lửa, vì chúng cháy rất nhanh. Thành Ninive kiêu ngạo đã bị mắc bẫy và tuyệt vọng bởi chính những điều nó cậy nhờ. Những kẻ giàu, quyền hành, các tà thần. Say sưa với sức mạnh và thái độ tự xem mình là quan trọng, nó không giải cứu mình được (NaNk 1:10). Những hàng rào gai gốc không thể đứng nổi trước lửa thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Ninive sẽ cháy như rơm rạ.

Trước đây Ninive đã làm khổ Giuđa bằng sưu thuế cao và những cuộc xâm lăng. 1:11 có lẽ áp dụng cho những mưu kế độc ác của Sanchêríp nghịch cùng Giuđa trước đó khoảng bảy mươi lăm năm. Điều đó dường như cho thấy rằng hiện nay Asyri đang hoạch định đặng hà hiếp và tiêu diệt Giuđa như đã làm với Ysơraên.
Đức Chúa Trời đã từng dùng Asyri để hình phạt Giuđa vì những việc làm gian ác của họ, nhưng điều đó sẽ không xảy ra một lần nữa. Ngài sẽ bẻ cái ách hà hiếp mà Asyri từng áp đặt lên Giuđa và bứt đứt xiềng xích đã trói cột dân sự Ngài (1:12-13) Ngài sẽ làm mồ mả cho Asyri. Những thần tượng họ chất chứa đầy dẫy sẽ bị đem đi phu tù. Asyri đã từng vui sướng khi đem các thần tượng của các dân tộc khác đi làm phu tù. Bây giờ họ sẽ gặt điều mình đã gieo.
14. Ý định kép của Đức Chúa Trời trong việc hủy diệt Ninive và Asyri là gì?
…………………………………………………………………………………………………………………………………..
15. Đọc và đối chiếu 1:15, EsIs 52:7-10GiGa 8:34-36. Đưa ra một ứng dụng thuộc linh từ những sự đối chiếu ấy.
……………………………………………………………………………………………………………………………………
CHIẾN TRẬN CỦA NINIVE
NaNk 2:1-13Hailey 253-259-264
Nahum đoạn 2 mô tả khải tượng của nhà tiên tri về trận chiến Ninive. Sự hủy diệt lớn nầy thật sự đã xảy ra khi người Sythe, người Mêđi, và người Babylôn chinh phụcc Ninive vào năm 612 TC. Sau một cuộc vây hãm lâu dài. Trước hết họ phá hủy tất cả các thành trì của Asyri rồi sau đó tiến đánh thành Ninive. Dân thành Ninive công bố một kỳ kiêng ăn và cầu khẩn với các thần của họ trong 100 ngày, nhưng vô ích. Đáng lẽ họ phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời như cư dân ở đấy đã làm trước đó khoảng 160 năm, khi Giôna rao giảng cho họ, và Đức Chúa Trời hẳn sẽ cứu họ.
Ở đây, cũng như trong nhiều lời tiên tri, Nahum nói về điều phải xảy ra như là đang xảy ra hoặc xảy ra rồi (2:10-11). Các động từ Hybá ở trong thì hoàn thành được dùng để chỉ một hành động đã được hoàn thành. Khi được dùng trong các lời dự báo của Kinh Thánh, như thế được gọi là sự hoàn thành của lời tiên tri. Điều đó tỏ ra rằng khi Đức Chúa Trời phán qua một tiên tri, người ấy biết chắc điều đó sẽ xảy ra đến nỗi người ấy phán như là điều đó đã xảy ra rồi.
16. Câu nào trong Nahum đoạn 2 cho thấy quá trình diễn tiến của các câu Kinh Thánh kia sẽ phải xảy ra trong tương lai?
…………………………………………………………………………………………………………………………….
17. Tính khốc liệt của chiến trận trong Nahum đoạn 2 nhắc nhở chúng ta về độ nóng của cơn thạnh nộ Đức Chúa Trời ở đoạn 1. Hai điều nầy có mối liên quan thế nào?
……………………………………………………………………………………………………………………………
Một số nhà chú giải cho rằng câu 6 ám chỉ đến việc làm khô cạn nước của các sông bao quanh một phần của thành Ninive. Chúng hình thành một thứ hào là một phần của sự bảo vệ thành. Khi hào khô cạn, các binh lính thù địch có thể đột nhập thành cách dễ dàng hơn (Cohen trang 200-201). Diodorus Siculus một sử gia cổ, nói rằng nước lũ của các con sông đã xói mòn một phần các vách thành, song nhiều nhà chú giải xem câu Kinh Thánh nầy như là một hình thái tu từ.
Lời ám chỉ đến Huzzab (bảng King James) trong câu 7 không rõ ràng. Một số xem nó như là hàm ý về thành Ninive (như trong bản dịch NIV). Những người khác cho rằng từ đó chỉ về hoàng hậu, nhưng dường như bà đã chết cháy cùng với nhà vua và con cái họ khi ông ta đốt cung điện. Một số nhà chú giải thì nghĩ rằng Huzzab nói đến một trong các nữ thần của Ninive.
18. Vì sao hình thái tu từ trong 2:11-13 là rất thích hợp (Hailey 262).
……………………………………………………………………………………………………………………………………
19. Lời tiên tri của Nahum đã được ứng nghiệm như thế nào?
……………………………………………………………………………………………………………………………………
GẶT LẤY ĐIỀU GIAN ÁC
3:1-19 Hailey 251-252; 264-270
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Nahum gọi Ninive là “thành đổ máu”! Là thủ đô, nó đại diện cho hết thảy những tội phạm của nhà cầm quyền Asyri. Những khám phá của ngành khảo cổ về nghệ thuật và các tài liệu ghi chép cho thấy các vua của họ rất vui thích trong sự độc ác dã man của họ. Hailey đã trưng dẫn lời mô tả của Farrar về tính dã man cực kỳ của họ (trang 251).
Ninive không những là một thành đổ máu, mà nó còn là thành đầy dẫy những sự dối trá, tham lam và cướp bóc. Nó đầy dẫy những nhà chứa của cải bằng vàng và bạc mà nó lấy được từ nhiều nước. Asyri, giống như sư tử với miếng mồi của nó, xé các nạn nhân của nó thành từng mảnh. Giống như một ả điếm quốc tế, Ninive tranh thủ tình cảm của các nước khác bằng cách đưa ra những đề nghị cứu giúp và rồi đưa họ đến chỗ diệt vong.
20. Đưa 3 đoạn ra các lý cớ của sự hủy diệt Ninive. Những tội lỗi chính được liệt kê trong đoạn 3 câu 1 và 4 là gì?
……………………………………………………………………………………………………………………………………
Cựu ước dùng chữ tà dâm bằng nhiều cách. Về nghĩa đen, từ nầy chỉ về công việc của một cô gái điếm. Về nghĩa bóng, nó được dùng để ám chỉ sự thờ hình tượng (Exe Ed 23:27; OsHs 4:12) và sự liên minh với các nước gian ác (EsIs 33:1-3; OsHs 7:7). Tệ mại dâm, sự thờ hình tượng, tà thuật và phù phép là một phần trong đạo giáo của người Asyri. Quyền lực của Satan giúp họ bắt các dân làm nô lệ. Nhưng Đức Chúa Trời mạnh hơn Satan. Ngài đã cho Ninive cơ hội để ăn năn và được cứu, nhưng họ đã quay lại với tệ mại dâm của họ. Vì vậy Đức Chúa Trời sẽ phó thành điếm đĩ nầy cho sự hình phạt thông thường dành cho một kỵ nữ (NaNk 3:5-6).
Những cô gái điếm đôi khi bị xé lột áo xống khi bị đuổi khỏi phố hoặc thành của họ. Rác bẩn và bụi đất bị ném vào người họ khi họ bị đuổi đi. Có khi họ bị càm lại để cả cộng đồng đều được xem. Ninive cũng sẽ bị tước mất quyền lực và sự giàu có, bị phô ra cho thế gian xem hình dung của họ, bị xô đuổi, bị ném các thứ ô uế, bị khinh bỉ, một mục tiêu cho người ta nhìn xem và chẳng ai than khóc sự sụp đổ của nó.
Toàn bộ sách Nahum nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta sẽ gặt điều mình đã gieo. Nahum vạch ra những gì Asyri đã làm cho Thibe (Nô Ammôn). Nó đã sụp đổ bất chấp việc có các đồng minh và những phương tiện bảo vệ thiên nhiên. (3:8-11), và bây giờ đến phiên Ninive nhận lại những thứ đối đãi tương tự. Nó cũng không hơn gì Thibe. Vậy, sứ điệp của Đức Chúa Trời kết thúc bằng cách bảo Ninive hãy sửa soạn cho chiến trận. Nhưng nó sẽ bị đánh bại vì nó chống nghịch Đức Chúa Trời.
21. Dựa trên 3:19. So sánh sự kết thúc của Ninive với kết cuộc của Satan là điều phải đến. Hãy viết câu trả lời của bạn vào vở.
……………………………………………………………………………………………………………………………………
ĐỨC CHÚA TRỜI MẶC KHẢI QUA NAHUM
22. Bây giờ bạn hãy xem lại biểu đồ mẫu ở Bài 2 (Khung 2.7) rồi hoàn tất biểu đồ sau đây dành cho sách Nahum (Khung 9.4). Lưu ý sách Nahum không nhắc gì đến Đức Thánh Linh và chỉ có một lời nói về Đấng Mêsia (2:2).

Bài Tập Tự Trắc Nghiệm

CÂU LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự của câu trả lời đúng nhất của mỗi câu hỏi.
1. Điều nào sau đây là bằng chứng nội tại (bằng chứng trong sách Nahum) cho thấy sách Nahum có thể được viết ra vào khoảng năm 621 TC, vào thời điểm có các cuộc cải cách của Giôsia?
a) Nahum lên án Giuđa vì các tội thờ hình tượng của họ.
b) Ông nhắc đến những cải cách của Giôsia.
c) Ông trích dẫn lời của tiên tri Sôphôni là người cũng nói tiên tri về Giuđa.
d) Ông nói đến các kỳ lễ của Giuđa cùng những lời thề nguyện của họ song không lên án họ.
2. Sứ điệp của Nahum dành cho Giuđa phù hợp với tên của ông, hàm ý
a) Sự yên ủi.
b) Sự đoán phạt.
c) Lễ hội.
d) Sự lên án.
3. Lời tiên tri của Nahum phán cùng Giuđa về
a) Ysơraên
b) Ninive
c) Giuđa
d) Babylôn
4.Lời giao ước của Đức Chúa Trời phán cùng Ápraham, Ysơraên và Giuđa đã hứa gì sau đây?
a) Sự chúc phước của Đức Chúa Trời sẽ ở trên họ trong mọi tình huống.
b) Các kẻ thù của họ sẽ bị tiêu diệt.
c) Các kẻ thù của họ sẽ không bao giờ đánh bại họ được.
d) Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ họ ngay cả khi họ không vâng lời Ngài.
5. Sự đoán phạt giáng trên Asiry là công bình vì họ
a) Là dân tộc hùng mạnh nhất trên thế giới.
b) Sẽ không để cho dân Giuđa thờ phượng Đức Giêhôva.
c) Đã gặt đều họ gieo.
d) Không chịu ăn năn khi Giôna nói tiên tri cùng họ.
6. Cơn nóng giận của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi được mô tả như là
a) Độ nóng trắng của kim loại.
b) Lòng ghen công chính.
c) Sự báo thù.
d) Cơn nóng giận không kiểm soát được.
7. Điều nào sau đây cũng giống như là chống nghịch cùng Đức Chúa Trời?
a) Thờ hình tượng.
b) Chống lại sự cám dỗ.
c) Sự tập trung vào chính mình.
d) Chống nghịch cùng con dân Đức Chúa Trời.
8. Điều nào dưới đây là KHÔNG đúng khi liên hệ đến cách Đức Chúa Trời đối xử với Asyri?
a) Đức Chúa Trời đã dùng Asyri để phạt Giuđa vì những việc làm gian ác của họ.
b) Mặc dầu Đức Chúa Trời đã sử dụng Asyri, họ vẫn phải chịu trách nhiệm về những gì họ đã làm đối với dân sự của Ngài.
c) Đức Chúa Trời đã làm cho Asyri thịnh vượng vì họ đã để cho Ngài dùng họ.
d) Asyri, giống như hết thảy các dân tộc gian ác khác, đều phải gặt lấy những gì họ đã gieo.
9. Lời tiên tri của Nahum đã được ứng nghiệm khi Ninive bị dân Sythe, Mêđi và Babylôn hủy diệt vào
a) 608 TC.
b) 612 TC.
c) 721 TC.
d) 783 TC.
CÂU GHÉP CẶP . Ghép cặp mỗi vua Asyri với biến cố có ý nghĩa liên quan đến Ysơraên hoặc Giuđa trong đời trị vì của vua ấy.
a) Sạc Gông III.
b) Ashurbanipal.
c) Sanh manase V.
d) Ashur Uballit.
e) Tiếclaphiesê III.
…10 Đã bắt vua Manase làm tù binh rồi về sau phục hồi ngai vua trở lại cho người.
…11 Ông vua cuối cùng của Asyri, đế quốc của ông ta bị Babylôn chiếm lĩnh.
…12 Đã chinh phục một số tỉnh của Ysơraên và bắt Giuđa và Ysơraên phải cống thuế.
…13 Vây hãm Samari suốt ba năm.
…14 Hủy phá Samari và bắt 27.000 người Ysơraên đem qua Asyri.

Giải Đáp Các Câu Hỏi Của Bài Học

11 a Sự báo thù. b Cơn nóng giận. c Lòng ghen. d Sự phẫn nộ.
1 a), d) và e) là các câu trả lời được gợi ý.
12. Ngài vẫn luôn luôn là Đấng trước sau như nhất – Ngài là Đức Chúa Trời của tình yêu và là Đức Chúa Trời của sự thạnh nộ.
2 c) 621 TC.
13 c) Chiến cự nghịch cùng con dân Chúa cũng chính là đánh nhau với Đức Chúa Trời.
3. Lời tiên tri của Nahum không bao gồm lời lên án nào về tội lỗi của Giuđa cả, và NaNk 1:15 cho thấy sách tiên tri nầy có lẽ đã được viết ra vào lúc có các cuộc cải chánh của Giôsia.
14. Để hình phạt Asyri vì cớ tội lỗi của họ và giải phóng dân sự Ngài khỏi ách nô lệ.
4. Tên ông có nghĩa là “sự yên ủi” hay “kẻ yên ủi”, và sứ điệp của ông là một trong những sứ điệp yên ủi dành cho Giuđa.
15. Câu trả lời của bạn. Còn đây là điều tôi nhận được: Giống như những người rao tin thắng trận của Đức Chúa Trời trên Asyri, chúng ta cũng chạy mà rao báo Tin lành về sự chiến thắng của Chúa Cứu Thế trên Satan.
5 a) 200 năm.
16. Câu 13.
6. Các câu a) và d) mô tả người dân thuộc Đế quốc Asyri.
17. Chiến trận nầy mô tả cơn giận của Đức Chúa Trời nghịch cùng Ninive.
7 a 1) Giuđa

b 2) Babylôn

c 2) Ysơraên
18. Sự hủy diệt Ninive là triệt để hoàn toàn đến nỗi nhiều thế kỷ sau đó vị trí của nó vẫn không ai biết đến. Hết thảy dân cư thành hoặc chạy trốn đế cứu lấy mạng sống họ hoặc bị đem đi lưu đày.
8 d) Sự hủy diệt thành Ninive.
19. Asyri bị chinh phục vào năm 612 TC bởi dân Sythe, Mêđi và Babylôn (người canh đê).
9. Để yên ủi và khích lệ dân Giuđa, những người đã bị Asyri hà hiếp.
20. Giết người, nói dối, cướp bóc, tham lam, bắt các dân làm nô lệ, tà thuật và tà dâm.
10. Mỗi cá nhân và mỗi quốc gia đều sẽ gặt những gì họ đã gieo.
21. Câu trả lời của bạn. Satan không thể thắng trong cuộc chiến chinh phục thế gian của nó vì nó đang chống nghịch cùng Đức Chúa Trời. Cuối cùng nó sẽ bị cột trói, không còn làm khổ thế gian được nữa. Khi đó chúng ta sẽ vỗ tay và vui mừng trước sự sụp đổ của sự cai trị gian ác của nó.
22. Câu trả lời của bạn phải giống với các câu trong biểu đồ sau: