Home » Thư Viện » Học Kinh Thánh » Các Sách Tiểu Tiên Tri – MALACHI

Các Sách Tiểu Tiên Tri – MALACHI

GIỚI THIỆU SÁCH MALACHI

Tác giả và niên đại
Hailey 401
Malachi là một nhà cải cách can đảm đã phán cách dạn dĩ với các thầy tế lễ và dân sự về tội lỗi của họ. Ông chống đối mãnh liệt những ai tỏ ra bất kính với Đức Chúa Trời và những ai làm công việc Chúa cách nữa vời. Ông sốt sắng nỗ lực cho một cuộc thức tỉnh thuộc linh nhằm đem lại sự công chính cho mọi người dân cũng như sự tận hiến chân thật cho Đức Chúa Trời.
Những vấn đề mà Malachi rao giảng được nói đến một cách đầy đủ hơn bởi Exơra và Nêhêmi. Vì lý do đó có vẻ như chức vụ của Malachi và của họ xảy ra vào cùng một thời điểm. Một số các nhà chú giải tin rằng sứ điệp của Malachi dành cho các thầy tế lễ có trước Exơra vào năm 458 TC và dọn đường cho các cuộc cải cách của ông. Những người khác thì cho rằng có khả năng các sứ điệp này đã được ban phát vào giữa những năm 445 và 432 TC hơn.
Malachi có nghĩa là “sứ giả của Ta”, nhiều nhà chú giải cho rằng đó là một tước hiệu dành cho nhà tiên tri chứ không phải là tên của ông. Các văn sĩ Do thái trong Talmud coi Malachi và Exơra là một (Cohen,trang 335). Sách này rõ ràng bày tỏ cùng một tinh thần và các mối quan tâm giống như sách Exơra. Nhưng nếu Malachi 1:1; tuân theo khuôn mẫu của tất cả các sách tiểu tiên tri, thì có vẻ có khả năng Malachi là tên của nhà tiên tri hơn.
1. Điền vào chổ trống niên đại viết sách Malachi được đặt cơ sở trên việc nội dung của sách rất khớp với các điều kiện sống được……và………….mô tả, qua đó ấn định niên đại vào một khoảng thời gian nào đó giữa năm…………và……… TC

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Exơra một thầy tế lễ tin kính Chúa, một giáo sư và là một thầy ký lục đã nhận lãnh sự ủy thác của nhà vua để trở về Giêrusalem đặng dạy luật pháp của Đức Chúa Trời cho dân sự. Khi ông về đến nơi-năm mươi tám năm sau khi đền thờ được xây xong,ông bàng hoàng khi thấy sự hờ hợt thuộc linh và sự bại hoại đạo đức của dân sự. Ông bắt đầu cầu nguyện và dẫn dắt họ vào sự phục hưng. Về sau,Nêhêmi vị quan tửu chánh tin kính Chúa của vua Attaxetxe,đã trở thành quan trấn thủ và đã trở về Giêrusalem để xây lại các vách thành. Ông đã làm việc cùng với Exơra để dạy dỗ và cũng cố lại các chuẩm mực của Đức Chúa Trời.
2. Đọc Exo Er 7:10 Giả sử bạn sắp phải dạy một bài về sự dâng mình cho Chúa của Exơra. Dựa trên câu Kinh Thánh này,ba điểm chính của bài học bạn soạn là gì?
a Điểm 1
b Điểm 2
c Điểm 3
3. Điều nào dưới đây là các phẩm tính của Exơra được cho thấy trong Exơra đoạn 7,8 và 9?
a. một thầy tế lễ tin kính Chúa
b. hời hợt đối với các phận sự trong chức vụ tế lễ
c. được đào luyện kỷ về luật pháp của Đức Chúa Trời
d. có đức tin và lòng can đảm
e. là một nhà quản lý tồi
f. một người cầu nguyện làm sáng danh Đức Chúa Trời
g. có khả năng nhóm hiệp những người lãnh đạo kính sợ Chúa để giúp đỡ ông
4. Những nan đề nào sau đây Nêhêmi phải đối diện tại Giêrusalem
a. Bị sự chống đối của người Samari
b. sự thờ hình tượng
c. sự kết hôn giữa người Do thái với dân ngoại
d. những kẻ lợi dụng người nghèo
e. sự nỗi loạn mở rộng nghịch cùng quyền lãnh đạo của ông
f. Phạm ngày sabát
Nêhêmi đoạn 8-13 mô tả một số hành động được Exơra và Nêhêmi tiến hành đó là:kêu gọi dân sự nhóm lại và đọc lời Chúa,cầu nguyện, ngợi khen Đức Chúa Trời và giữ lễ lều tạm
TÍNH ĐỘC ĐÁO VÀ SỨ ĐIỆP
MaMl 1:1-4:6 Hailey 402-405
TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA MALACHI

Suốt các sách tiểu tiên tri chúng ta đã thấy Đức Chúa Trời hướng các sứ điệp Ngài nhằm vào các nan đề hiện thời cũng như các nhu cầu của dân sự. Ngài cũng chuyển đổi hình thức truyền đạt theo vốn từ và các kiểu suy nghĩ của người nói và người nghe. Trong Malachi chúng ta thấy nhà tiên tri dạy dỗ, biện luận với dân sự. Thời đại của ông cũng là một thời đại của chủ nghĩa duy lý cực đoan giống như thời của chúng ta. Những phán quyết đạt đến được theo những gì có vẽ như hợp lý, chứ không do chấp nhận lời Chúa như là một tiêu chuẩn của niềm tin và hành động.
Đó là lý do vì sao Đức Chúa Trời ban cho dân sự sứ điệp Ngài ở dạng biện chứng nhầm kêu gọi sự biện luận của họ-một hình thức đối thoại với họ. Malachi đề cặp đến những thắc mắc đến từ tinh thần của một dân hay tái phạm và trả lời các lý lẽ của họ từng điều một. Điều đó khiến cho dân sự suy nghĩ sâu xa và thấy những lý lẽ hợp lý để hầu việc Chúa theo đường phải. Phương pháp giáo huấn dạy dỗ của ông đã được các Rabi vào thời Chúa Giêxu sử dụng
5. Câu nào sau đây mô tả đúng nhất hình thức lý luận mang tính biện chứng?
a. Câu hỏi và trả lời
b. Kể một câu chuyện rồi đưa ra sự ứng dụng cho một tình huống cụ thể
c. Đưa ra một lời tuyên bố,trình bày sự phản bác, rồi giải đáp điều đó
d. Tranh luận dựa trên kinh nghiệm đã qua
Malachi không những rao giảng nghịch cùng tội lỗi mà còn ban bố các sứ điệp về sự khích lệ. Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho dân sự nếu họ tôn kính Ngài và vâng lời Ngài. Malachi rao bảo về tình yêu của Đức Chúa Trời và sự đến lần thứ nhất và thứ nhì của Chúa Cứu Thế
6. Hailey cho rằng sự hời hợt đối với luật pháp, việc ly hôn, và tình trạng kết hôn lẫn lộn,cũng như việc rút lại các của dân phần mười phản ánh suy nghĩ của dân sự cho rằng Đức Chúa Trời đã không giữ lời hứa Ngài với họ sau khi họ từ cảnh lưu đày trở về. Hailey đưa ra lời giải thích nào sau đây về tình huống đó?
a. Các lời hứa thì có điều kiện, và dân sự đã không thỏa đáp được các điều kiện để nhận được những lời hứa ấy
b. Các lời hứa của Đức Chúa Trời phán cùng họ không phải dành cho thời điểm của họ mà là cho một thời điểm về sau,sau khi Đấng Mêsia đến
c. Đức Chúa Trời đã làm hết thảy những gì Ngài hứa, nhưng dân sự luôn luôn muốn nhiều hơn điều Ngài sẵn ban cho họ
TÌNH YÊU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI DÀNH CHO DÂN SỰ NGÀI
1:1-5 Hailey 404-407
Malachi bắt đầu cuộc đối thoại của ông với dân sự bằng lý luận cơ bản lý do họ cần phải hầu việc Đức Chúa Trời:“Đức Giêhôva có phán “Ta yêu các ngươi” (1:2). Họ có ý tưởng rằng Chúa yêu họ thì họ đã không gặp phải quá nhiều hoạn nạn như vậy bạn có biết người nào cũng đã từng suy nghĩ như vậy không? Họ đang tập trung vào những nan đề của mình thay vì nhìn xem các ơn phước của mình. Malachi để họ so sánh số phận của họ với số phận của Êđôm. Đức Chúa Trời đã yêu Giacốp (Ysơraên) mà ghét Êsau (Êđôm). Cả hai dân tộc này đều đã bị các kẻ thù họ chinh phục và phải rời bỏ quê hương xứ sở. Nhưng nay Ysơraên đã trở về quê hương mình, còn Êđôm thì không. Ngay cả nếu như Êđôm có ra sức để xây dựng lại,thì Chúa phán Ngài cũng sẽ làm nó đổ xuống
Người Hêbơrơ dùng các từ yêu và ghét để cho thấy người này được yêu nhiều hơn người kia. Chúa Giêxu cũng sử dụng từ ghét trong ý nghĩa đó,có nghĩa là “yêu kém hơn” để nói rằng chúng ta cần phải yêu Ngài thậm chí nhiều hơn yêu gia đình mình (LuLc 14:26) Bạn sẽ lưu ý thấy Hailey không đồng ý với cách giải thích này-xem trang 406). Tuy vậy có điều gì đó trong Giacốp-với tất cả những lỗi lầm của ông-mà Đức Chúa Trời vẫn yêu và có điều gì đó trong Esau mà Ngài ghét. Giacốp yêu kính Chúa còn Esau thì không. Con cháu của Giacốp,là dân Ysơraên, đã bị kỷ luật vì sự tái phạm luôn của họ,song luôn luôn vẫn có một số người thật lòng yêu Chúa. Ysơraên là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu thương họ. Sứ điệp của Malachi là nhằm dạy họ cách đáp ứng trước tình yêu ấy và vui hưởng sự ban phước của Đức Chúa Trời.
7. So sánh câu trả lời trong MaMl 1:2-5 với 3:16-4:3;. Dựa vào điều đó bạn hãy viết một lời tuyên bố có thể áp dụng cho bất cứ ai hỏi câu “Đức Chúa Trời yêu chúng ta ở đâu” (cũng xem IGi1Ga 4:19)
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
8. Điều gì trong dân Êđôm đã khiến Chúa “ghét” dân tộc này và đối đãi với họ nghiêm khắc như vậy?
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
MaMl 1:2 cũng có liên quan đến 2:173:2-3, 6-7. Những câu Kinh Thánh này cho thấy tình yêu không thay đổi của Đức Chúa Trời; Ngài kỷ luật và thanh tẩy dân sự vì cớ Ngài yêu họ.
TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚA ĐỐI VỚI NGƯỜI HẦU VIỆC NGÀI
1:6-2:9
Vì Đức Chúa Trời yêu dân sự Ngài,nên Ngài biện luận với họ. Cựu ước dạy rằng con cái phải tôn kính cha mẹ,đầy tớ phải kính trọng chủ và dân sự phải vâng phục bậc cầm quyền. Dân Giuđa đã tuân giữ các chuẩn mực ấy song lại không tôn kính và vâng phục Đức Chúa Trời là Cha và Chủ của họ
9. Các thầy tế lễ đã làm điều gì cho thấy họ thiếu lòng tôn kính Đức Chúa Trời và danh Ngài?
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
10. Điều này dạy dỗ chúng ta những gì người hầu việc Chúa có thể làm để dạy dân sự tôn kính Chúa và sự thờ phượng của họ được Chúa chấp nhận?
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
Đức Chúa Trời kể các thầy tế lễ phải chịu trách nhiệm vì đã nhận cho Ngài các con sinh mù,què,và đau yếu. Ngài đã cấm các của dâng như thế (LeLv 22:17-25). Lẽ ra các thầy tế lễ phải dạy cho dân sự biết điều Ngài muốn và điều Ngài không dung chịu được. Vì đó là bàn thờ của Ngài, chứ không phải của họ (MaMl 1:7) Thờ phượng bằng sự dâng hiến phải là một thái độ thể hiện tình yêu và lòng biết ơn mà mình có. Nan đề của các thầy tế lễ là họ không hiểu biết Chúa một cách cá nhân, và họ cũng chẳng học tập,dạy dỗ, và vâng lời Đức Chúa Trời. Trái lại Exơra đã giúp dân sự phục sự Chúa cách phải lẽ bằng sự cầu nguyện, đưa họ xây bỏ tội lỗi và dạy họ lời Chúa (Exo Er 7:10, 26; NeNe 8:1-16)
11.Điều nào sau đây là nguyên nhân gốc rễ của thái độ hời hợt của các thầy tế lễ đối với sự thờ phượng đáng phải có?
a. họ thất vọng với Chúa vì Ngài không ban phước cho họ nữa
b. họ không thật lòng yêu Chúa và tôn kính danh Ngài
c. họ ngã lòng vì cớ sự chống đối đến từ những người ngoại bang
Biểu đồ cho thấy trách nhiệm của các thầy tế lễ (khung 13.3) phải là một sự thách thức đối với bất cứ ai hầu việc Chúa với cương vị một người giúp việc Tin lành. Hãy xem kỷ lại biểu đồ và cầu nguyện xin Chúa giúp bạn trung tín trong việc làm trọn các trách nhiệm của mình ở trước mặt Ngài
KẾ HOẠCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI DÀNH CHO HÔN NHÂN
MaMl 2:10-16 Hailey 414-417
Những gia đình đổ vỡ và các cuộc hôn nhân pha trộn (người tin Chúa với người ngoại)-thật là một thảm cảnh trong thời Malachi cũng như trong thời của chúng ta! Những người nam lúc bấy giờ đã ly dị với vợ mình và cưới những người nữ người ngoại, không phải vì vợ họ không chung thủy, mà vì những người đàn ông này tự tưởng về những gì làm họ dễ chịu hơn là vâng theo ý Chúa. Kết hôn với những người vợ không tin kính đã đưa dân tộc xa lìa Chúa trước đó. Họ hẳn sẽ tái phạm nữa nếu như không có những lời cầu nguyện của Exơra. Sự cáo trách của Đức Chúa Trời trên dân sự và sự hành động quyết liệt (Exơra 9-10). 2:10-16 mô tả cách dân sự đang vi phạm kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân .
Hôn nhân của dân sự Chúa tuân theo những chỉ dẫn sau đây:
1. Kết hôn với người tin Chúa, không kết hôn với người ngoại.
2. Sự cam kết suốt đời không ly hôn.
3. Chung thủy không làm gãy đổ lòng tin cậy.
4. Nhân từ không hung bạo.
Tân ước không đề xuất việc ly hôn đối với những cuộc hôn nhân hiện tồn tại giữa cdn với người chưa tin Chúa, song cảnh cáo chống lại những sự kết hiệp như thế. (ICo1Cr 7:10-16, 39; IICo 2Cr 6:14-18; Mat Mt 5:31-32; 19:3-9). Chúng ta cần phải có lòng thương cảm dành cho những nạn nhân của các vụ ly dị và giúp đỡ họ. Đức Chúa Trời thường giúp đỡ họ.
12. Những lý do nào sau đây dành cho sự cam kết cả đời trung thành hôn nhân giữa những người tin Chúa được nhấn mạnh trong MaMl 2:15?
a. Phải giữ sự kết ước trong hôn nhân.
b. Để con cái trong cuộc hôn nhân đó sẽ trở thành một dân đích thực là của Chúa.
c. Bởi vì điều này là một sự cam kết gián tiếp với Đức Chúa Trời.
13. Những người đàn ông Giuđa đã vi phạm các nguyên tắc gì của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân?
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
CHÚA CỨU THẾ- ĐẤNG THANH TẨY.
2:17-3:6 Hailey 417-420.
Malachi, giống như Aghê và Xachari, đều nhắc đến sự đến lần thứ nhất và thứ hai của Đấng Cứu Thế. Ngài đến với những ai hiện đang tìm kiếm Ngài (3:1). Với tư cách Đấng Thanh Tẩy, Chúa Jesus đã chịu chết để thanh tẩy chúng ta khỏi tội lỗi và sự bại hoại của tội lỗi (IGi1Ga 1:7-9). Chúng ta đã thấy sự cáo trách của Chúa Cứu Thế, quyền năng biến cải làm thay đổi cả cộng đồng. Chúng ta đã thấy tỉ lệ tội phạm giảm xuống khi những kẻ trộm cắp và những người phạm pháp tiếp nhận Chúa. Con người được giải phóng khỏi rượu, ma túy, bài bạc, tà thuật, quỷ ám, những tệ nạn về mặt tình dục, lòng căm ghét, độc ác và các tội lỗi khác.
Với tư cách Đấng Thanh Tẩy, Chúa Cứu Thế dùng lửa của Thánh Linh và đôi khi lửa của sự đau khổ (hoạn nạn)để thanh tẩy tâm tánh chúng ta, giống như người thợ luyện nấu chảy bạc để tách biệt các thứ cáu cặn, những thứ không tinh sạch ra khỏi nó. Là Đấng Thanh Tẩy, Ngài sẽ tẩy sạch thế gian khỏi tội lỗi và những kẻ phạm tội trong lửa phán xét hầu đến.
Bởi lời cầu nguyện sốt sắng nhất cùng sự dạy dỗ của lời Chúa trong thời Malachi, Đức Chúa Trời đã xây một dân tộc hay tái phạm trở về với Ngài. Lời cầu nguyện của chúng ta hiện nay là: Lạy Chúa xin hãy ban điều đó cho các Hội thánh chúng con và dân tộc chúng con, hầu chúng con dâng mình cho lửa tẩy thanh của Thánh Linh hiện bây giờ và được thoát khỏi lửa phán xét hầu đến. (Mat Mt 3:11-12; GiGa 16:7-11).
14. Chúng ta có lời đảm bảo gì trong MaMl 3:1-6 rằng Chúa Cứu Thế sẽ làm công việc thanh tẩy dân sự của Đức Chúa Trời và mang lửa đoán xét trên kẻ thù của Đức Chúa Trời?
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
15. Nói vắn tắc công việc Chúa Cứu Thế với tư cách Đấng Thanh Tẩy.
a. Trong quá khứ……………………………………………………………………………………………………..
b. Trong hiện tại………………………………………………………………………………………………………
c. Trong tương lai…………………………………………………………………………………………………….
KẾ HOẠCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI DÀNH CHO SỰ THỊNH VƯỢNG.
3:7-12 Hailey 420-422.
Từ thời Apraham chúng ta thấy dâng sự đã dâng một phần mười những của cải hay những huê lợi kiếm được cho Đức Chúa Trời như là một phần trong sự thờ phượng và cảm tạ của họ (SaSt 14:18-20; 28:20-22). Về sau Đức Chúa Trời đã khiến việc dân phần mười trở thành một phần trong luật pháp Ngài. Đó đã từng là một cách phải lẽ và thích đáng để cung cấp tài chánh cho công việc của Ngài. Mỗi người dâng hiến tùy theo khả năng của mình và mọi như cần đều đã được đáp ứng. Điều này làm người dâng một phần mười đều trở thành người dự phần với Chúa trong công việc Ngài. Đức Chúa Trời ban phước và làm thịnh vượng những ai dự phần với Ngài (MaMl 3:10-12).
Ngày nay chúng ta không bị buộc dâng một phần mười cho Đức Chúa Trời theo luật pháp, nhưng kế hoạch và lời hứa của Ngài vẫn còn giá trị. Nếu ngày xưa dân sự đã dâng một phần mười thì ngày nay càng phải dâng cho Chúa các phần mười và những của dâng mình nhiều hơn nữa. Trong Thời Đai Hội Thánh vinh diệu này, chúng ta cũng có thể trở thành người dự phần với Ngài trong việc ban phát Tin Lành cho thế gian nữa. 3:10 là một câu Kinh thánh đáng phải thuộc lòng, hãy thực hành và dạy dỗ điều đó. Hàng ngàn cdn có thể chứng thực rằng Đức Chúa Trời đã ban phước và giúp đỡ họ về mặt tài chánh cũng như qua những phương cách khác khi họ bắt đầu trở thành những người dự phần của Ngài qua việc dân một phần mười. Đây có phải là lời chứng của bạn không?
16. Đọc 3:7-12; Mat Mt 6:33; 23:23, và LuLc 6:38 rồi trả lời các câu hỏi sau:
a. Đức Chúa Trời bảo dân sự là đang làm gì khi họ không dâng một phần mười?
b. Chúa Jesus nói gì về việc dâng một phần mười?
c. Dân sự Chúa có thể được thạnh vượng về mặt vật chất bằng cách gì?
17. Giải thích vắn tắc khía cạnh mang tính điều kiện của kế hoạch Đức Chúa Trời dành cho sự thịnh vượng của con dân Ngài (xem Hailey trang 420-422).
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
NGÀY CỦA ĐỨC GIÊHÔVA.
MaMl 3:13-4:6 Hailey 422-426.
Dân sự đang bảo rằng “vì sao chúng ta phải hầu việc Đức Giêhôva? Hãy xem những kẻ làm ác được thịnh vượng thế nào!” xem 3:14 Đức Chúa Trời cho họ biết qua Malachi rằng sổ sách ghi chép được giữ ở trên trời và họ sẽ thấy phần thưởng của người công bình cùng số phận bất hạnh của kẻ ác. Ngài phán về hậu quả kinh khiếp của tội lỗi- sự đoán phạt bằng lửa giáng trên thế gian mà trong đó kẻ ác sẽ như rơm rạ trong lò lửa. Thế gian này sẽ bị hủy diệt bằng lửa (IIPhi 2Pr 3:10-14), nhưng con dân Chúa trông đợi “trời mới đất mới là nơi sự công bình ăn ở”. Đối với họ, của cải quí giá của Đức Chúa Trời là:“mặc trời công bình sẽ mọc lên cho, trong cánh nó có sự chữa bịnh” (MaMl 3:17; 4:2).
Êli phải là người tiên tri của Chúa Cứu Thế và “xây lòng”cha và con trở lại cùng nhau trong sự hòa giải trược khi Chúa Cứu Thế trở lại (4:5-6). Như Hailey cho thấy, chúng ta có một sự báo trước về điều này qua Giăng Báp tít (LuLc 1:11-17). Nhưng tôi không đồng ý với tất cả mọi sự giải thích của Hailey về khúc Kinh thánh này. Giăng Báptit đã tuyên bố ông không phải là Êli (GiGa 1:21). Nhiều học giả kinh thánh vẫn tin như tôi rằng Êli sẽ là một trong hai người làm chứng sẽ đến trong Kỳ Đại Nạn trước Trận Chiến Hạtmaghêđôn (MaMl 4:5-6KhKh 11:3-12). Ông sẽ đem lại một sự biến đổi trong nhiều đời sống (Malachi 4:6;) trước khi có sự quy đạo của toàn dân Ysoraen (OsHs 5:15). Và rồi một dân Ysoraen vâng lời sau cùng sẽ có được một vai trò quan trọng trong nước vinh hiển của Chúa Cứu Thế. Từ nay cho đến ngày đó, nguyện Chúa giúp chúng ta vui mừng thực hiện phần của mình để chuẩn bị cho sự hiện đến của Ngài.
18. Dựa trên lời mô tả của Malachi (MaMl 4:1-3), hãy mô tả số phận của người công bình và kẻ ác trong Ngày của Đức Giêhôva.
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
19. Sự ứng nghiệm hai lần của lời tiên tri Malachi về Eli là gì?
…………………………………………………………………………………………………………………………………….
ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC MẶC KHẢI QUA MALACHI.
Khi hoàn tất phần này bạn sẽ có một tập đầy đủ các biểu đồ cho thấy Đức Chúa Trời được mặc khải qua các sách Tiểu Tiên Tri. Bạn sẽ thấy đây là một nguồn thông tin quý báu đối với việc chuẩn bị các bài học và bài giảng kinh thánh từ các sách Tiểu Tiên Tri . Ví dụ bạn sẽ thấy rất thú vị khi so sánh điều được mặc khải về một phương diện nào đó của Đức Chúa Trời, như là bản tánh thánh khiết hay bản tánh tha thứ của Ngài trong mỗi sách Tiểu Tiên Tri. Hoặc bạn có thể cần làm một nghiên cứu về những lời tiên tri liên quan tới Đấng Mesia, sự hiện đến lần thứ hai của Ngài, hay về Ngày của Đức Giêhôva. Dầu bạn dùng các biểu đồ như thế nào, chúng cũng sẽ là một nguồn phước cho bạn và cho những người được bạn chia sẻ.

Nay chúng ta đã đến chỗ kết thúc việc học tập các sách Tiểu Tiên Tri. Nguyện Đức Chúa Trời ban phước dồi dào khi bạn thực hành và đem chia sẻ những gì bạn học biết về môn học này với những người khác. Sự vâng lời của bạn đối với những nguyên tắc đã học được qua các tiên tri sẽ giúp bạn theo Chúa Cứu Thế từ đắc thắng này đến đắc thắng khác khi bạn trông đợi ngày đó, là ngày Ngài sẽ đến để lập nước đời đời của Ngài.

Bài tập tự trắc nghiệm

CÂU ĐÚNG SAI- Hãy viết chữ Đ vào chỗ trống ở trước câu nào Đúng, viết chữ S nếu là câu Sai.
1. Lời tiên tri của Malachi cũng liên hệ đến điều kiện sống và các nan đề Êxora và Nehemi đã đối diện, điều này cho thấy sách Malachi được viết vào khoảng thời gian giữa năm 460 và 432 T.C.
2. Exora, Nehemi, và Malachi là các tiên tri cùng thời ở tại Ysoraen.
3. Khi các lời hứa của Đức Chúa Trời là các lời hứa có điều kiện, thì nhất định Ngài sẽ thực hiện dầu cho có bất cứ điều gì xảy ra.
4. Malachi có thể được mô tả đầy đủ như là một nhà cải chánh.
5. Lời tiên tri của Malachi được trình bày bằng hình thức biện chứng để kêu gọi sự lý luận của con người trong một thời kỳ có xu hướng của chủ nghĩa duy lý cựu đoan.
6. Những vấn đề Malachi nêu ra là hậu quả của việc thờ hình tượng.
7. Lòng ghét Êđôm của Đức Chúa Trời cho thấy tâm tính và khuynh hướng bất kỉnh đối với sự thánh khiết tuyệt đối của Ngài sẽ bị Ngài ghét.
8. Đức Chúa Trời không yêu chúng ta cho đến khi nào chúng ta trở lại với Ngài.
9. Việc dâng những sinh vật bị mù, què, và đau yếu là một hình thức thờ phượng được chấp nhận trong thời Malachi vì dân sự lúc ấy quá nghèo- Loại của lễ như thế nào là điều không quan trọng.
10. Các Truyền đạo, Mục sư phải chịu tránh nhiệm về sự thờ phượng của chính mình song không thể nào bị buộc phải chịu trách nhiệm về cách thờ phượng Chúa của dân sự như thế nào.
11. Sự dửng dưng của các thầy tế lễ đối với các của lễ được dâng lên cho thấy họ thiếu lòng yêu thương thành thật với Đức Chúa Trời và thiếu lòng tôn kính đối với danh Ngài.
12. Malachi tuyên bố mạnh mẽ chống lại tệ ly hôn và kết hôn giữa người tin Chúa và người không tin.
13. Mục đích của lửa Thánh linh và lửa hoạn nạn là để hình phạt chúng ta vì tội lỗi của mình.
14. Malachi dạy rằng các ơn phước của Chúa tùy thuộc vào sự sẳn sàng của chúng ta để dâng hiến rộng rãi cho công việc Ngài .
15. Malachi nói lời tiên tri rằng trong Ngày của Đức Giêhôva kẻ ác sẽ bị cháy như rơm rạ trong lửa.
16. Sự ứng nghiệm hai lần của lời tiên tri Malachi về Êli sẽ được hoàn thành trong Cơn Đại Nạn, ngay trước khi Chúa Cứu Thế trở lại.

Giải Đáp Các Câu Hỏi Của Bài Học

  1. Trả lời của bạn. Người ấy có thể hầu việc Chúa vui mừng vì lòng yêu kính lớn lao của mình dành cho Chúa, làm gương trong sự thờ phượng ngay thật và dạy dân Chúa điều Ngài ưa muốn cũng như điều Ngài không thể dung chịu. Người ấy có thể giữ các phép tắc và lòng tôn kính trong nhà Chúa.
    1. Êxơra; Nêhêmi; 460; 432 T.C.
    11.b) Họ không thật lòng yêu Chúa và tôn kính danh Ngài.
    2.a. Êxơra học lời Chúa.
    b. Êxơra vâng giữ lời Chúa.
    c. Êxơra dạy dỗ lời Chúa.
    12.b) Để con cái trong cuộc hôn nhân đó đích thực là của Chúa.
    3. Các câu trả lời a); c); d); f) và g) là những phẩm tính của Êxora.
    13. Gồm cả bốn điều sau: Kết hôn với người bạn đời tin kính Chúa, sự cam kết trọn đời, sự chung thủy và sự nhân từ.
    4.a); c); d); và f) là những nan đề mà Nêhêmi phải đối diện.
    14. Lời tuyên bố của Chúa: “Vì Ta là Đức Giêhôva, Ta không hề thay đổi” Ngài sẽ làm như điều Ngài đã phán.
    5.c)Đưa ra một lời tuyên bố, trình bày thứ tự phản bác, rồi giải đáp các điều đó.
    15.a)Ngài đã chết để tẩy sạch tội lỗi chúng ta bởi huyết Ngài.
    b)Ngài đào luyện tâm tính chúng ta bằng lửa Thánh linh và nếu cần thiết bằng sự chịu khổ.
    c)Ngài sẽ tẩy sạch khỏi thế gian tội lỗi và những kẻ phạm tội trong lửa đoán phạt.
    6.a)Các lời hứa có điều kiện.
    16.a)Ăn trộm Ngài.
    b)Sự dâng phần mười phải được thực hiện mà không bỏ qua sự công bình, lòng thương xót và sự trung tín.
    c)Bằng cách đặt Chúa trước hết, trả các phần mười cho Chúa và dâng hiến các của dâng.
    7.Trả lời của bạn. Đức Chúa Trời yêu chúng ta trước khi chúng ta yêu Ngài Ngài chăn sóc những người Ngài yêu. Kẻ ác (tức những người không quay về với tình yêu của Ngài) sẽ bị trừng phạt, và người công bình (những ai yêu mến và vâng lời Ngài) đều sẽ vui mừng trong Ngày của Đức Giêhôva.
    17. Sự ban cho của Chúa tùy thuộc vào sự dâng hiến của chúng ta đối với Ngài.
    8.Tâm tính và xu hướng bất kỉnh của Êđôm đối với sự thánh khiết tuyệt đối của Đức Chúa Trời.
    18. Người công bình sẽ được tự do như bò tơ ra khỏi chuồng. Còn kẻ ác sẽ cháy như rơm rạ trong lửa.
    9. Họ đã dâng các con sinh mù, què và tàn tật, họ phàn nàn về công việc của họ.
    19. Giăng Báptít đã đến trong tinh thần và quyền phép của Eli để xây lòng dân sự trở lại cùng Chúa trước khi Chúa Cứu Thế đến lần thứ nhất. Êli sẽ là một trong hai người làm chứng trong Cơn Đại Nạn ngay trước khi Chúa Cứu Thế trở lại.
    20. Các câu trả lời của bạn phải giống với các câu trả lời trong biểu đồ này.(trang bên cạnh)

Từ Vựng

Sự gớm ghét: Điều gây ra cảm giác ghê tởm, mạnh mẽ hoặc sự chán ghét.
Có thể tiếp cận: Dễ đến dễ thâm nhập hay dễ sử dụng.
Được Thuận tiện: có thể đạt tới được.
Thành tựu: Hoàn thành tốt đẹp, sự đạt được, điều gì đó được thực hiện hay thi hành một cách thành công.
Tà dâm: Được đặt trưng bởi tội ngoại tình, có liên quan đến hoặc ám chỉ đến tội ngoại tình (sự quan hệ tình dục giữa người đã có vợ hay chồng với người không phải là vợ hay chồng của mình), cũng được dùng để biểu trưng cho một dân tộc đi theo tà thần và không trung tín với Đức Chúa Trời có một và thật.
Kẻ đối địch: Kẻ thù, kẻ đối thủ.
Chuyện ngụ ngôn: Một câu chuyện có ngụ ý khác với ý nghĩa bề ngoài của bản thân nó, được kể với mục đích giải thích hay dạy dỗ điều gì đó.
Tiền hồng thủy: Trước trận lụt trong thời Nôê.
Sự bội đạo: Bỏ khỏi đức tin tín ngưỡng của mình hay là xây bỏ Đức Chúa Trời.
Ám sát: Một vụ giết người được thực hiện bằng cách tấn công thình lình hay bí mật.
Hành động dã man: Sự gian ác hay tàn bạo ghê tởm; những hành động rất độc ác và man rợ.
Báo trả: Hình phạt chính đáng cho kẻ nào đó hay một sự bất công hay sai trái nào đó.
Ngăn chận: Không cho xảy ra; ngăn ngừa; tránh
Tai họa: Một bất hạnh lớn, tai ương gây sự đau khổ lớn lao
Thuộc xác thịt: Thuộc đời này, không thuộc linh, cậy nơi năng lực loài người.
Tự mãn: Thỏa mãn với bản thân mình hay tình trạng của mình.
Quả quyết: Dứt khoát, có sức thuyết phục, tối hậu.
Có điều kiện: tùy thuộc vào một điều khác, không tuyệt đối, bày tỏ hay chứa đựng một điều kiện hay đòi hỏi.
Sự yên ủi: để làm dịu bớt nỗi buồn hay sự thương tiếc; một người, một điều hay một sự việc đem lại sự yên ủi.
Ô uế: làm cho dơ bẩn, bị vấy bẩn, bị ô nhiễm.
Đồng thời: tồn tại cùng thời gian.
Cáo trách: tình trạng bị chứng minh hay bị tố cáo là có tội.
Đồi bại: làm cho sa sút, bị làm cho suy kém về giá trị.
Suy bại: ngày càng kém đi về sức mạnh, quyền hành hoặc giá trị, càng ngày tồi tệ hơn, suy tàn.
Sự ô uế: Làm cho bẩn thỉu hay dơ dáy; tình trạng bị vấy bẩn hoặc mất danh dự.
Suy đồi: Ngày càng tồi tệ hơn; suy bại về tính chất đạo đức.
Đáng khinh: Bị giảm phẩm chất; mất danh dự; làm cho bị xem thường.
Tố cáo: Công khai lên án; bày tỏ sự không tán thành mạnh mẽ; buộc tội
Sự cáo tội: Sự định tội công khai.
Sự đi đày: Rời khỏi một xứ sở vì bị trục xuất.
Làm suy đồi: Có các đạo lý hết sức xấu xa, bại hoại; đồi trụy.
Sự phỉ bán: Cười khinh miệt; nhạo báng.
Trở nên tồi tệ: làm giảm giá trị; sự sa sút.
Sự tàn phá: Sự hủy hoại; tình trạng đổ nát.
Quỷ quyệt: Rất dã man hoặc ác độc, xảo quyệt.
Biện chứng: Sự thảo luận hợp lý, lô-gíc bằng cách dùng các câu hỏi và câu trả lời.
Giáo huấn: Nhằm định ý truyền dạy; dạy dỗ.
Sự phân biệt: Chất lượng hoặc đặc điểm đặc biệt; điểm khác biệt.
Cáu cặn: Những tạp chất, như là lớp váng trên bề mặt kim loại bị nấu chảy.
Triều đại: Sự nối ngôi của những người cai trị thuộc về cùng một dòng tộc.
Sắc lệnh: Chiếu chỉ hay luật do nhà vua hoặc một người cai trị khác công bố bởi thẩm quyền độc nhất của mình.
Hùng hồn: Rất diễn cảm; lời diễn thuyết lưu loát có duyên và có sức mạnh.
Sự kêu gọi: Lời thúc giục mạnh mẽ; lời khuyên hoặc cảnh cáo.
Cổ vũ: Sốt sắng; lời diễn thuyết hoặc bài giảng kêu gọi.
Lưu đày: Sự phân cách khỏi đất nước; cảnh phu tù ở Babylôn.
Bị bóc lột: Bị sử dụng cách bất công và vị kỷ.
Sự mở rộng: Sự thêm vào; cái được mở rộng thêm.
Kỳ kiêng ăn: Không ăn uống để bày tỏ thái độ than khóc vì cớ tội lỗi hoặc sự tận hiến cho Chúa trong sự cầu nguyện sốt sắng.
Lễ hội: Ngày tổ chức mừng sự nhân từ của Chúa cách vui vẻ.
Báo trước: Cho thấy trước; được trình bày hoặc được làm hình bóng; hành động như một lời cảnh cáo.
Đánh mất: Từ bỏ, mất qua một hành động nào đó, do sự xao lãng hoặc sai lầm.
Tà dâm: Mại dâm.
Kẻ mạo danh: Người giả làm một người khác để lừa dối hoặc gạt người khác.
Tính chất bao gồm: Bao gồm nhiều; gồm tóm mọi sự hoặc mọi người
Sự phẫn nộ: Nóng giận trước sự không xứng đáng, không ngay thẳng, không công bình hoặc ti tiện.
Không chung thủy: Không trung tín, đặc biệt đối với vợ hoặc chồng; phản bội.
Vô định: Trong tình thế mà không thể bị đánh bại; không thể thất bại hoặc khuất phục.
Không thể đổi lại được: Không thể gọi lại hoặc đem trở lại; không thể rút lại; không thể thay đổi, dứt khoát.
Sự than vãn: Sự than khóc lớn tiếng; khóc vì buồn rầu, than thở, rên rĩ.
Thầy giảng tín đồ: Người phát ngôn cho Đức Chúa Trời song không phải là thành viên của hàng giáo phẩm.
Dâm đãng: Không đứng đắn; đầy tham muốn; khiêu dâm.
Sự giải phóng: Thả tự do; được buông tha.
Văn chương: Liên quan đến văn phẩm hoặc một số lượng các văn phẩm. Các tiên tri văn chương là những người viết lại những lời tiên tri của họ.
Hợp logic: Có liên quan đến các nguyên tắc lý luận và suy luận, hợp lý
Nhà Mạc-ca-bê: Các thành viên trong một gia đình tế lễ của những người Giu đa yêu nước đấu tranh để giành tự do khỏi sự áp bức của người Sy ri (168-143 TC) và trở thành những người lãnh đạo dân sự và về mặt tôn giáo của quốc gia.
Tinh thần duy vật chất: Khuynh hướng quá chú trọng đến những thứ thuộc về thế gian và xao lãng những nhu cầu tâm linh.
Vụ lợi: Làm việc chỉ vì tiền hoặc lợi lộc vật chất.
Di trú: Rời khỏi chỗ này để đến định cư ở một nơi khác.
Sự di trú: Quá trình di chuyển từ nơi này đến định cư ở nơi khác.
Tinh thần truyền giáo: Có một gánh nặng và ước ao được dự phần trong việc đem lời Chúa đến cho người ở xứ sở khác.
Động cơ thúc đẩy: Sự kích thích, khích lệ; hành động đưa ra một lý do hoặc một lý lẽ thuyết phục để khiến ta hành động; điều làm cho một người làm việc.
Chuyện thần thoại: Một truyền thuyết nhằm nỗ lực giải thích một hiện tượng tự nhiên hoặc siêu nhiên nào đó, một câu tưởng tượng hoặc không chứng thực được đã hình thành và được truyền lại từ dời này sang đời kia.
Văn thuật truyện: Một thể loại văn viết kể lại các sự kiện theo trình tự thời gian.
Tinh thần dân tộc: Có tinh thần ái quốc; tôn cao dân tộc mình hơn tất cả mọi dân tộc khác.
Buồn bực: Không hài lòng; không thể đồng ý; chán ghét.
Tương ứng: Tương tự; tương đương; có thể so sánh.Giống hoặc có thể so sánh được.
Các tộc trưởng: Các tổ phụ và những người sáng lập quốc gia Do Thái
Tình trạng bối rối: Tình trạng bị bối rối; sự lúng túng khó xử; hoang mang
Sự sai lệch: Sự hư hỏng; sự sai lạc; hướng sang điều sai trật.
Bị bóp méo: Bị hư hỏng; bị sai lệch; bị sử dụng vì các mục đích sai trật hoặc theo cách sai trái.
Thuộc về ngữ văn: Có liên quan đến ngành khoa học nghiên cứu các ngôn ngữ.
Nạn dịch: Bất cứ các dịch bệnh nào hoặc dịch lệ; hình phạt được coi là do Đức Chúa Trời giáng xuống.
Cướp bóc: Các tài sản của một quốc gia bị quân lính xâm luợc cướp lấy đem đi.
Sự ô uế: Sự không thánh sạch; điều gì có tính không sạch; không trong lành; bẩn.
Hậu lưu đày: Sau Cuộc lưu đày (sau khi từ Babylôn trở về)
Mưu tính: Được suy tính hoặc trù tính trước.
Sự bận rộn: Tình trạng hoàn toàn bị cuốn hút; tập trung toàn bộ sự chú tâm vào điều gì đó.
Con mồi: Nạn nhân của một loài thú hay săn tìm, giết chết và ăn thịt các loài vật khác.
Tính chất chuyên nghiệp: Tình trạng tham gia vào một nghiệp vụ hay hoạt động nhằm kiếm sống; giữ một nghề nghiệp như là sự nghiệp của mình
Tầm thường: Văn thường; bình thường; không kích động; giống như văn xuôi (hình thức bình thường của ngôn ngữ nói hoặc viết mà không có vần hoặc nhịp điệu).
Người cải đạo: Chuyển đổi từ một tôn giáo này sang một tôn giáo khác.
Tệ mại dâm: Có các quan hệ tình dục để kiếm tiền; việc sử dụng thân thể một cách đáng hổ thẹn, đê tiện..
Sấp mình: Quỳ mọp xuống; gieo mình xuống đất; trải mình trên đất, mặt sấp xuống.
Thanh tẩy: Rửa sạch hết những gì không thanh sạch.
Đấng thanh tẩy: Có khả năng tẩy sạch hoặc không có các khiếm khuyết.
Chủ nghĩa duy lý: Hành động chấp nhận lý lẽ như là nguồn uy quyền tối thượng.
Dung hòa: Đưa trở lại sự hòa hợp; dàn xếp sự khác biệt giữa hai bên.
Dân sót: Nhóm dân nhỏ còn sót lại.
Sự phục hồi: Hành động làm mới lại, khôi phục trở lại trình trạng tốt; làm tươi mới.
Sự khôi phục: Hành động đưa trở lại tình trạng trước đây, tái thiết.
Kiềm chế: Giữ lại; giữ trong mức giới hạn; bó hẹp.
Nghi thức: Thực hành một nghi lễ tôn giáo hay một hình thức thờ phượng.
Thấm đượm: Ngấm hoàn toàn, đầy dẫy
Chủ nghĩa nhân văn thế tục: Một lối sống tập trung vào những mối quan tâm và giá trị của con người; một triết lý khẳng định nhân phẩm và giá trị của con người với sự phủ nhận tôn giáo.
Sự tự hủy hoại mình: Hành động hoặc tình trạng phá hủy chính mình.
Bao vây: Vây bọc để chiếm đoạt; một cuộc tấn công liên tục, lâu dài.
Ấn chỉ: Một con dấu nhỏ; một dấu ấn hoặc dấu đóng được thực hiện bởi một ấn chỉ.
Tối cao: Người trị vì tối thượng; có quyền hành hoặc uy quyền tối cao; vô hạn, tuyệt đối.
Bị bắt phục: Bị chinh phục; phải chịu dưới sự kiểm soát hoàn toàn.
Tối thượng: Uy quyền hoặc quyền phép tuyệt đối.
Tối cao: Vị trí cao nhất hay thẫm quyền cao nhất; lớn nhất; tột bực.
Mang tính biểu tượng: Được dùng để đại diện cho hoặc biểu trưng cho một ý tưởng, một phẩm chất hoặc một tình trạnh nào đó.
Có hệ thống: Có phương pháp hoặc kế hoạch.
Dung chịu: Khoan dung hoặc chịu đựng.
Sự cống nạp: Dân tộc này phải cống nạp tiền bạc cho một dân tộc khác để được hòa bình hay bảo vệ.
Tối hậu: Đến vào lúc chót; cuối cùng; cực điểm.
Tính độc đáo: Phẩm chất có được mà không điều gì giống hay bằng với nó; loại duy nhất
Không kiềm chế được: Không chịu dưới sự kiểm soát.
Không thể chứng minh được: Không thể được chứng minh là đúng hoặc không thể khẳng quyết được.
Kẻ chiếm quyền: Kẻ chiếm đoạt và nắm giữ quyền lực bằng sức mạnh, không bằng lẽ phải.
Sự báo thù: Hình phạt báo lại bởi một việc làm sai xấu; báo trả.
Tai họa: Hoạn nạn gây ra sự tàn hại, tai ương; biểu hiện của sự khổ não
Cuồng nhiệt: Sốt sắng, nhiệt thành; có cảm xúc mạnh mẽ đối với một mục tiêu.

 

Bài Viết Liên Quan