Home » Thư Viện » Ebook » Dám Sống Trên Bờ Vực (1)

Dám Sống Trên Bờ Vực (1)

Tác giả: Loren Cunningham & Janice Rogers

 

Chương
1. Phá Hỏng Việc Tìm Kiếm Những Gì Bình Thường
2. Bạn Đã Từng Thấy Một Chú Chim Lo Lắng Bao Giờ Chưa
3. Vì Sao Phải Sống Bằng Đức Tin
4. Đức Chúa Trời Và Tiền Bạc
5. Vua Chứng Khoán Wall-Street.
6. Làm Thế Nào Giữ Mình Khỏi Sự Thất Bại
7. Đường Lối Kinh Tế Thích Hợp Của Đức Chúa Trời
8. Sự Cấp Dưỡng Của Hội Truyền Giáo, Phương Pháp Của Chúa Jesus
9. Sống Bằng Đức Tin Trong Giới Làm Việc từ 9 giờ Sáng – 5 giờ Chiều
10. Ban Cho Như Thế Nào?
11. Những Phương Tiện Cấp Dưỡng Mắt Không Thấy Được
12. Phải Xin Trợ Giúp Như Thế Nào?
13. Vấn Đề Sung Túc
14. Khi Công Việc Không Kết Quả
15. Nếu Bạn Rời Khỏi Mép Bờ?
Phụ Lục

 

LỜI NÓI ĐẦU
Qua năm tháng, tôi đã hình thành thói quen hễ khi nào lên đường trong một chuyến công tác hầu việc, là tôi mang theo bên mình hai ba cuốn sách để đọc. Mới đây trong chuyến đi đến Singapore, một trong những cuốn sách tôi mang theo là quyển Dám Sống Trên Bờ Vực.
Tôi đọc những cuốn sách khác mà tôi đã mang theo cách nhanh chóng và cũng toan làm vậy với quyển sách của tác giả Cunningham, song từng lời lẽ trong mỗi chương đã thu hút và giữ chặt sự chú ý của tôi. Tác giả nói đến một điều mà tôi hoàn toàn đồng cảm từ 36 năm nay trong chức vụ hầu việc Chúa. Tôi thấy mình bị toàn bộ cuốn sách cuốn hút khi nó đưa ra những minh họa thực tiễn về việc Đức Chúa Trời đã làm những phép lạ để đáp lại đức tin.
Cuốn sách chứa đựng những minh họa thật xúc động về lời hứa trong Phi Pl 4:19 “Đức Chúa Trời sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có vinh hiển của Ngài “. Hãy để cho những lời chứng này khích lệ mỗi một tôi tớ của Đức Chúa Trời để tiếp tục sống cách rộng rãi, tin cậy Ngài là Đấng sở hữu hết thảy mọi của cải trong thế gian này. Nhà truyền giáo tiên phong vĩ đại Hudson Taylor đã nói rằng: “Công việc của Đức Chúa Trời được thực hiện theo phương cách của Đức Chúa Trời, sẽ không bao giờ thiếu sự chu cấp của Đức Chúa Trời”.
Tôi đã từng đọc một số các cuốn sách và bài báo nói về đức tin để sống mỗi ngày. Chính tôi cũng đã, đang viết và giảng về đề tài này, song cuốn DÁM SỐNG TRÊN BỜ VỰC là sự giải thích hùng hồn và sống động hơn hết, vượt xa tất cả những gì tôi đã đọc từ trước tới nay về điều mang ý nghĩa “sống bởi đức tin”. Tác giả đã gọi đó là một cuộc phiêu lưu với Đức Chúa Trời. Đức tin ứng dụng vào đời sống và chức vụ của một người đòi hỏi phải có sự thành thật và lòng tin cậy trong sạch đặt nơi Đức Chúa Trời cũng như lòng tin trọn vẹn nơi những lời hứa của Ngài. Chính điều đó khiến cho Đức Chúa Trời phải thực hiện những chương trình của Ngài.
Tôi khuyên bạn hãy học quyển sách này và cũng báo cho bạn biết – điều đó có thể làm thay đổi đời sống bạn đấy!
Tiến sĩ Truyền giáo học Met Castillo
Hội Truyền Giáo ÁChâu

ĐÔI LỜI CỦA TÁC GIẢ
Quyển sách này dành cho hai lớp người… hai thành phần độc giả khác hẳn nhau, với những nhu cầu cũng như những lý do rất khác nhau.
Một thành phần độc giả gồm những người làm chức vụ hầu việc, cộng tác viên Cơ Đốc trọn thì giờ, hoặc nhân sự có tiềm lực. Người ấy cần biết cách để bước ra, tin cậy và vâng phục Chúa về mặt tài chánh.
Thành phần còn lại là những người ngồi trong các hàng ghế trong nhà thờ – những người đang giữ các công việc “thế tục”. Những người này cũng cần học biết, không những về cách để vâng phục Đức Chúa Trời, mà còn để tin cậy Ngài về các phép lạ nữa.
Bạn thì không định viết một quyển sách cho hai tầng lớp độc giả khác nhau như vậy. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt như vậy hầu cho công việc của Ngài không thể thực hiện nếu không có sự hợp tác đó.
Nhiều điều trong quyển sách này nhằm dành cho mỗi một người trong số những người đang đóng vai trò chủ chốt trong thế giới: là những người hầu việc trung tín trong hội chúng ở địa phương, cầu nguyện và dâng hiến cho công việc Chúa, và là những người đi ra như người truyền giáo.
Bởi vì mỗi một người đều quan trọng trong chương trình của Đức Chúa Trời về các sự việc, nên tôi có một yêu cầu đặc biệc dành cho bạn. Liệu bạn có đọc cuốn sách nầy trong tính toàn vẹn của nó không? Mặc dầu chương 9 chủ yếu nhắm vào những người thuộc giới làm ăn buôn bán, song những nguyên tắc bình thường tương tự sẽ là quan trọng đối với những người ở trong công tác hoặc các sứ mạng Cơ Đốc trọn thì giờ.
Cũng vậy, những người làm việc thuộc giới 9-5 sẽ tìm thấy nhiều điều trong các chương từ 11 – 14 giúp đỡ họ khi họ trở thành những người dự phần với những người trong sứ mạng đó. Bạn sẽ để ý hầu hết các ví dụ của chúng tôi đến từ 31 năm tin cậy Đức Chúa Trời cung ứng cho công việc truyền giáo ở tại hơn 200 quốc gia. Tuy nhiên, như tôi đã chia xẻ những nguyên tắc về tài chánh đặt cơ sở trên những kinh nghiệm trong các cuộc hội nghị với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, những vị thuộc tổ chức C.E.O và những bậc lãnh đạo chính quyền trong một số các quốc gia, chúng tôi học biết rằng hết thảy chúng tôi đều đối diện với những thách thức như nhau – để bước ra, để dám sống cho Chúa nơi bờ mép. Ngoài ra hết thảy chúng tôi đều cần phải học hỏi với nhau nhiều hơn hầu cho chúng tôi có thể cộng tác hữu hiệu trong khi hoàn thành công việc Chúa trên trần gian.
Bước ra để hầu việc Chúa trong một hoàn cảnh căng thẳng như vậy không bao giờ dễ dàng. Hoặc đó là cơ hội thứ nhất hay thứ một ngàn của bạn để nghe và vâng theo Ngài, điều đó luôn luôn vui sướng. Nhưng một khi bạn đã kinh nghiệm được sự xúc động rộn ràng do sự vâng phục triệt để, thì bạn sẽ không bao giờ còn giống như trước. Tôi cầu nguyện với Chúa để khi đọc cuốn sách này, bạn sẽ sẵn sàng bước bước đầu tiên, hoặc bước thứ một ngàn theo dấu Đấng Chỉ Huy can đảm của chúng ta.
Loren Cunningham
Kona, Hawaii

PHÁ HỎNG VIỆC TÌM KIẾM THEO CÁCH THƯỜNG TÌNH
Những đám bụi tung mù mịt khi chiếc xe của chúng tôi xóc chồm trên những đoạn đường đầy vết đất lún nằm ở địa phận phía Đông Nigeria vào đất Ibo. Tôi liếc nhìn qua người tiếp đón mình, ông Walter Kornelson, màu da hồng hào trên gương mặt ông giờ đây phủ đầy bụi bặm và mồ hôi. Tôi sẽ làm việc với vị giáo sĩ lớn tuổi này và vợ ông trong năm ngày. Năm ngày mà tôi đã thật sự trông đợi. Ông là một nhà truyền giáo to khỏe, có tính mạo hiểm. Vì vậy, mặc dầu còn trẻ và mới bắt đầu tham gia hầu việc Chúa với các hội truyền giáo, tôi cảm thấy dễ chịu với ý nghĩ tổ chức các buổi nhóm truyền giảng với ông. Viễn cảnh thú vị nhất là năm đêm truyền giảng cho người dân ngoại giáo Ibo.
“Loren này, chúng tôi thật vui mừng vì anh đã đến!”, ông nói, xây mắt khỏi con đường trước mặt song không hề chạy chậm lại. Những chú gà con chạy tung kêu quang quác phản đối đằng trước mũi xe ô tô của chúng tôi.
“Tôi đã từng giảng dạy mỗi đêm ở tại một trong các ngôi làng này suốt bốn tháng không hề ngừng nghỉ”, ông cười, nói tiếp “Thật là mừng khi nghe có một người khác để thay đổi!”.
Tôi gật, định trả lời thì Bùm! Rồi một tiếng nổ kinh hồn, và một tiếng thịch nện trên đường lộ cứng. Chiếc xe nghiêng sang một bên nhưng ông Walt đã giữ chặt tay lái và dừng được ngay. Không cần giải thích gì cả, tôi nhảy xuống khỏi xe cùng với ông ta để kiểm tra sự thiệt hại. Tiếng động do lớp xe nổ thì ở đâu trên thế giới này cũng giống nhau.
“Ôi Chúa ôi! Con phải làm sao đây!”. Ông Walt kêu lên đi về phía sau xe chỗ để đồ dự phòng, hai vai ông xụi xuống với một vẻ mỏi mệt mới.
“Có gì trục trặc vậy? Thưa ông, chúng ta không thể mua được một chiếc lốp xe ở Enugu chăng?”. Tôi hỏi
“Được, có chứ, nhưng…”, giọng ông hơi lạc đi, trong khi ông vật lộn với chiếc cờ lê và những tai bù-loong.
Ông không nói gì nhiều sau khi chúng tôi đã vào trở lại trong xe và chiếc xe rề rề trên đường lộ. Cuối cùng, ông nói “Tôi thật tiếc đã để cho anh buồn, Loren à, và tôi cũng thật tiếc đã không đến gặp những người đó, nhưng thật sự là còn một thời gian ngắn nữa trước khi chúng tôi có thể lấy tiền để thay chiếc lốp này. Cộng tiền thuế và mọi thứ sẽ tốn hết 45 đồng ở tại đây.. Tôi không biết chúng ta phải làm thế nào đây”.
Một tiếng nhỏ nhẹ trong tôi khẽ bảo con có 45 đồng đấy – Phải, song đó là tất cả số tiền tôi có! Tôi phản đối, và trong vòng năm ngày nữa tôi sẽ rời nơi này cùng với sự an ổn có liên quan đến những người mà tôi quen biết và bay đến Khartoum, Sudan để nghỉ ngơi hai ngày. Hai ngày ở tại một thành phố xa lạ. Tôi phải có một chỗ để ở, có cái gì đó để ăn, vé xe buýt…45 đồng thậm chí cũng không đủ.
Thế rồi tôi nghĩ Bố và Mẹ mình hẳn sẽ cho ông ấy tiền, thậm chí đó là số tiền cuối cùng của bố mẹ. Tôi đã theo dõi bố mẹ tôi tin cậy Đức Chúa Trời và ban phát cho những người khác trong suốt 25 năm, và Ngài chưa bao giờ thất tín đối với họ.
“Ông Walt này”, tôi nói “Hãy để tôi trả tiền lốp xe cho ông. Chúng ta hãy tìm chỗ thay ngay đi”. Ông ta hơi phản đối “có chắc không, con trai? Anh còn một chuyến đi dài phía trước đấy!”. Nhưng tôi cứ nhất định, và chúng tôi đã tìm được một cửa hiệu trên một con phố đầy bụi.
Việc thay một chiếc lốp mới mất tất cả là 42 đồng và tôi còn lại 3 đồng trong túi, song ông bà Mục sư Kornelson không hề biết điều đó. Chúng tôi lao vào năm ngày đêm gian khổ và tuyệt diệu. Ở mỗi ngôi làng, ngay khi đến nơi và bắt đầu dựng đồ trang bị để chiếu cuộn phim Tin lành của chúng tôi, các đám đông xuất hiện từ những bụi cây như thể bởi một phép mầu. Nhiều khi có đến 2000 người ngồi chen chật với nhau ở phía trước màn hình cho đến khi trời tối. Sau buổi chiếu, tôi truyền giảng với sự giúp đỡ của một thông dịch viên và một chiếc loa phóng thanh cầm tay chạy bằng pin. Thật là tuyệt vời.
Nhưng rồi thời điểm cuối cùng của ngày thứ bảy bí mật của tôi cũng đã đến. Tôi vẫn chỉ còn vỏn vẹn 3 đồng…tôi sẽ làm gì ở Khartoum đây?
Cứ mỗi ngày, khi ông bà Walt theo thói quen dừng lại nơi hòm thư bưu điện của họ, thì tôi lại thầm tự hỏi: Nhỡ như trong đó có một lá thư cho tôi…với cái gì đó ở bên trong. Nhưng có ai biết tôi ở đây đâu? Liệu bưu điện có tìm được tôi ở mãi tận xứ Ibo nầy không? Đến ngày cuối cùng, ông bà Walt đi ngang qua thùng thư một lần nữa trên đường chúng tôi ra khỏi bãi đất có nhiều lùm cây. Ông thong thả quay trở lại xe ô tô. Dáng người to lớn của ông hơi khom xuống khi ông lật lật chồng thư.
“Xem nầy, Loren”, ông nói “Ở mãi tận đây mà người ta cũng tìm được anh đấy!”. Và ông đưa tôi một lá thư duy nhất – của một số các bạn ở lại Los Angeles. Tôi mở thư và nuốt một cách khó khăn – 150 đồng. Của những người trước đây chưa hề gởi bất cứ thứ gì cho tôi cả.
Lẽ ra tôi không phải ngạc nhiên trước sự thành tín của Đức Chúa Trời. Song dầu sao, khi bạn đang sống trên bờ mép – tức là tin cậy nơi Đức Chúa Trời và không biết đồng tiền kế tiếp đang đến từ đâu – thì điều đó không bao giờ trở thành lệ thường được.
Tôi biết bạn đang nghĩ gì. Bạn sẽ bảo “Phải rồi, Đức Chúa Trời đã hành động thời điểm đó, nhưng bạn thật sự chưa ở trong một sự nguy hiểm nào cả. Bạn chưa ở Khartoum mà không có tiền. Bạn vẫn có thể cứ ở lại với ông bà Kornelsons cho đến khi có trợ cấp đến”. Tôi sẽ kể cho bạn nghe câu chuyện của Evey và Reona…
Evey Muggleton và Reona Peterson tin rằng Đức Chúa Trời muốn dẫn dắt họ đến Albania, một trong những quốc gia thù địch nhất đối với Tin lành vào đầu những năm 70. Vào năm 1967, Albania đã tự họ tuyên bố là quốc gia vô thần đầu tiên trên thế giới. Họ đóng cửa tất cả nhà thờ, nhà hội Do Thái giáo, đền thờ Hồi giáo và đối xử tàn bạo đối với những ai không chịu công nhận rằng không có Đức Chúa Trời. Họ bỏ những người đó vào những thùng tròn niêm kín và ném xuống biển Adriatic.
Evey và Reona đã cầu nguyện và hoạch định chương trình suốt trong ba năm. Vào một trong những lần cầu nguyện của họ, Reona thấy rõ rệt trong tâm trí cô hình ảnh của chính mình ở tại Albania, một chiếc xe buýt du lịch cùng khuôn mặt của một người phụ nữ.
Cuối cùng, họ đã đã được cho thị thực nhập cảnh Albania cùng đi với một nhóm du lịch đa số là các thanh niên Mácxít từ Tây Âu. Họ đi bằng xe buýt y như khải tượng Reona đã thấy.
Reona và Evey mang lén các sách Phúc âm bằng tiếng Albania qua biên giới bằng cách buộc chặt trong người họ. Khi đã vào được bên trong, mặc dầu bị giám sát gắt gao, họ vẫn có thể kín đáo đặt các quyển sách nhỏ đây đó để người ta có thể tìm đọc.
Một ngày nọ, một nữ hầu phòng người Albania bước vào căn phòng của Reona trong khách sạn, và thật lạ lùng đó chính là người phụ nữ mà cô đã được thấy trong buổi cầu nguyện cách đó ba năm! Cô biết mình phải tìm cách nói chuyện với người phụ nữ nầy và tặng cho cô ấy các quyển sách nhỏ nói về Tin lành. Reona đã phá vỡ hàng rào ngôn ngữ bằng những chữ đơn giản nhất mà cô có thể sử dụng “Mác, Lênin…không! Chúa Jesus…được!”. Người phụ nữ mừng rỡ nhận quyển sách Phúc âm và áp chặt nó vào ngực mình. Nước mắt ràn rụa, cô nói: “Tôi cũng là một Cơ Đốc nhân” và nhét gọn quyển sách vào túi mình.
Vài giờ sau, Reona nghe những tiếng gõ lớn ở ngay cửa phòng mình và sau đó cô bị dẫn đến một căn phòng sáng mờ mờ, phủ một lớp khói xanh dương, có năm người đàn ông đang đợi ở đó. Reona trông thấy cuốn sách Phúc âm cô đã tặng cho người phụ nữ. Tim cô chùng xuống. Hẳn họ đã bắt được người bạn mới của cô cùng với quyển sách.
Họ bắt đầu chất vấn cô, tố cáo cô là một gián điệp và kết tội cô là chống lại nhân dân Albania. Trong khi Reona vẫn bình tĩnh, nhất định bảo mình vô tội, những người đàn ông càng lúc càng nóng nảy, bồn chồn. Sau đó người cầm đầu nhóm thẩm vấn hét lên “Cô không chịu hợp tác! Chúng tôi sẽ giữ cô ở đây cho đến khi nào công việc của cô bị vạch trần!”.
Trong một phòng khác, Evey cũng đang chịu đựng một cuộc thẩm vấn dã man như vậy. Sự việc cứ tiếp tục như vậy trong hai ngày đêm với cả hai thiếu nữ. Họ không được cho ăn gì ngoài một chút nước uống và vài giờ để ngủ. Những người thẩm vấn tách riêng họ ra, thét lớn vào mặt họ những lời tố cáo tìm cách gây cho họ sợ hãi. Song hai thiếu nữ vẫn dịu dàng xác nhận mình vô tội.
Cuối cùng, một trong những người buộc tội họ lạnh lùng cho Reona hay: “Cô là một kẻ phản bội nhân dân của nước Cộng hòa Albania vinh quang, và những kẻ phản bội phải bị xử bắn. Chúng tôi sẽ đến gặp cô vào 9 giờ sáng ngày mai”.
Sáng hôm sau họ đến và đưa hai cô ra khỏi phòng một cách khiếm nhã. Tuy nhiên thay vì bị xử tử, Evey và Reona bị trục xuất ra biên giới mà không có một lời giải thích. Vé xe trở về của họ đã bị tịch thu.
Dường như đó không phải là một vấn đề lớn lắm sau khi bạn đã đối diện với khả năng có thể xảy ra với một đội xử bắn – song họ vẫn còn phải đương đầu với một thách thức lớn lao đối với đức tin của mình. Hai thiếu nữ trẻ với các túi hành lý nặng nề phải băng bộ mười cây số trong vùng đất lầy lội không có người ở giữa các ranh giới thù địch, Albania và Yugoslavia. Sau đó, họ còn phải đi 1000 cây số (khoảng 700 dặm) dọc theo bờ biển Yugoslavia, băng qua miền Bắc nước Ý, vượt dãy Alps vào Thụy sĩ và bằng cách nào đó để đến nhà họ ở Lausanne. Liệu họ có thể tin cậy Chúa đưa họ về đến nhà với số tiền quá ít ỏi, không vé xe và cũng không biết gì về các vùng đất cũng như các thứ ngôn ngữ ấy không?
Họ đã phản ứng bằng đức tin. Rốt lại, Đức Chúa Trời, Đấng đã giải cứu họ khỏi đội xử tử chắc chắn là Đấng được tin cậy để giúp họ tìm cách về nhà.
Một loạt các phép lạ nhỏ đã xảy ra… một chiếc tắc xi không thể xuất hiện ở vùng đất không có người ở thậm chí người tài xế còn bằng lòng đưa họ đến biên giới mà không lấy tiền. Từ đó, họ đón một loạt các chuyến xe bằng cách sử dụng tập quán đi quá giang đã đi vào truyền thống. Nhưng điều đã xảy ra ngay trước biên giới Yugoslavia và biên giới nước Ý thì thật sự là một điều mầu nhiệm.
Đã bảy giờ tối mà hai cô vẫn còn cách biên giới Ý vài cây số, đang khi tìm xem phải quyết định làm gì. Họ không có tiền Ý. Liệu quá giang xe vào đất Ý ban đêm có an toàn không?
Ngay lúc ấy, một chiếc ô tô bóng loáng dừng lại bên cạnh. Evey ra dấu cho người lái xe, trỏ về hướng họ muốn đi – qua bên kia biên giới. Người đàn ông gật đầu không nói gì cả, cho hai cô gái và hành lý của họ vào sau xe rồi hướng thẳng đến biên giới. Đến nơi, họ thấy một dãy dài các xe hơi đang đợi kiểm tra và xét thẻ thông hành, người lái xe tăng tốc, tự động rẽ vào một đường riêng biệt và chạy thẳng qua bên kia biên giới Yugoslavia với một cái vẫy tay nhẹ nhàng.
“Người này là ai vậy?” Reona tự hỏi “Hẳn ông ta phải là một viên chức cao cấp của Yugoslavia mới rời khỏi một xứ Cộng sản dễ dàng như vậy!” Nhưng họ lại còn sửng sốt hơn khi đến tại Ý. Một lần nữa một đoàn xe dài đang kiên nhẫn đợi chờ để được thông qua và được cho vào. Lần nầy người lái xe thậm chí còn không chạy chậm lại hoặc vẫy tay nữa. Ông ta quẹo sang một lằn đường ở phía ngoài và chạy thẳng vào bên trong nước Ý, đỗ lại ở một trạm xe buýt. Ông đặt một đống tiền vào tay Reona, ngước nhìn cô và cuối cùng nói những lời đầu tiên “Đón xe buýt đến Trieste, từ Trieste đi xe lửa”.
Chỉ thế thôi. Ông phóng xe đi mất. Nhưng theo chỉ dẫn đó, họ đã đón xe buýt đến Trieste và từ Trieste họ đi tàu lửa đến Lausanne, Thụy sĩ. Nhờ số tiền ít ỏi họ có, cộng với số tiền mà người khách lạ yên lặng cho, họ vừa đủ chi phí để về đến nhà.
Câu chuyện này có vẻ xa lạ hoặc vượt khỏi tầm mức kinh nghiệm của bạn chăng? Có phải Đức Chúa Trời là Đấng thực hữu và thực tế, thậm chí có cả những chỉ dẫn chính xác để đưa họ về đến nhà cùng với sự cung ứng của Ngài chăng? Tôi tin khi đọc quyển sách này bạn cũng sẽ học được cách để tin cậy Ngài, bất cứ ở đâu và bất kỳ những thách thức nào mà bạn phải đối diện.
Trong lĩnh vực tài chính, có nhiều cách tin cậy Đức Chúa Trời. Chúng tôi có thể học tập để sống bằng đức tin trong sự cung ứng đa dạng của Ngài. Và chúng ta có thể bước ra và chứng kiến Ngài hành động vì lợi ích của chúng ta. Tốt nhất, chúng ta có thể học được những phương pháp của Ngài. Một khi bạn kinh nghiệm đời sống đức tin, điều đó sẽ phá hỏng việc tìm kiếm theo cách bình thường.
Khi người ta quan sát sự tăng trưởng nhanh chóng của một số người và chức vụ công tác trong tổ chức Thanh Niên Với Một Sứ Mạng (YWAM), họ thắc mắc làm thế nào mà nó có thể làm được quá nhiều việc và quá nhanh chóng như vậy. Tôi nói với họ rằng tôi không thành lập tổ chức YWAM (Thanh Niên Với Một Sứ Mạng) mà chính Chúa Jesus đã thành lập. Tôi hầu như chỉ là người quan sát những gì Ngài làm đối với chúng ta với tư cách một hội truyền giáo, phương cách Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta trong lãnh vực đức tin và tài chánh, và một bí quyết quan trọng để tăng trưởng nhanh chóng. Nếu bạn không hiểu rõ Đức Chúa Trời cùng quyền phép mầu nhiệm của Ngài, thì bạn không thể hiểu làm sao điều đó xảy ra được.
Tôi muốn chia xẻ với bạn những nguyên tắc chúng tôi đã học được, để giúp các Cơ Đốc nhân nhìn thấy những đường lối của Đức Chúa Trời và học tập để tin cậy Ngài hơn. Trong thế giới hiện đại, mỗi người đều cần tiền bạc, bởi vì hầu hết những thứ bạn làm đều liên quan đến tiền bạc. Nếu bạn sẵn lòng, Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt bạn vào một lối sống nơi mọi sự đều được thực hiện bằng đức tin trong Ngài, kể cả việc làm thế nào để bạn có được tiền và cách bạn sử dụng tiền bạc của mình.
Sứ điệp này áp dụng được cho hết thảy chúng ta. Dành cho…
Những gia đình trẻ, cố gắng dâng phần mười khi thu nhập của họ không đủ dùng.
. Vị Mục sư chủ tọa hội thánh đang vật lộn để làm thế nào trả lương cho nhân sự và sửa chữa nóc nhà thờ mặc dầu lượng tiền dâng giảm sút.
. Những người đã tốt nghiệp trung học hoặc Đại học băn khoăn không biết phải chọn hoặc sự đảm bảo về mặt tài chính hoặc một điều nào đó tốt hơn.
. Những cặp vợ chồng đã về hưu, cố gắng thu vén cho đủ sống với số thu nhập nhất định.
. Người truyền giáo ở chốn tiền đồn cô độc băn khoăn về việc không biết làm thế nào về số tiền mình có cần.
. Những người lớn tuổi, hoặc trẻ tuổi, đang ra đi lần đầu tiên để bước vào chức vụ hầu việc Chúa trọn thì giờ, băn khoăn không biết liệu mình có thể tự túc được không.
. Những người thấy mình có được một số tiền để dành nhưng không biết phải sử dụng cách nào để sáng danh Chúa. Cuốn sách này cũng dành cho những người ao ước một điều lớn lao hơn, một sự tham gia hào hứng vào những gì Đức Chúa Trời đang thực hiện trên khắp thế giới.
Dầu bạn đang ở trong tình huống nào, tôi khát khao được thấy bạn thực hiện bất cứ điều gì Chúa kêu gọi bạn làm; dầu phải can đảm thế nào. Nhưng sự lựa chọn thuộc về bạn. Bạn có thể ổn định trong một nếp sống bình thường hoặc được cảm động để có một bước mới mẻ với Đức Chúa Trời – Bạn có sẵn sàng sống nơi bờ vực không?

BẠN ĐÃ TỪNG THẤY MỘT CHÚ CHIM LO LẮNG CHƯA?
Bạn đã từng thấy một con chim lo lắng bao giờ chưa? Con chim mà có những vết nhăn hằn trên trán nó? Có lẽ cặp mắt nó mệt mỏi và đỏ ngầu với những quầng thâm do nhiều đêm mất ngủ. Bằng cách nào đó, bạn biết được rằng nó đang cố gắng gánh chịu sự lo lắng vì không biết làm sao để trả số tiền thế chấp chiếc tổ của nó!
Chúa Jesus đã dùng loài chim để làm ví dụ về cách chúng ta nên đối diện với vấn đề tài chánh. Trong Mat Mt 6:26, Ngài phán:
Các ngươi hãy xem loài chim trời, chẳng có gieo gặt, cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó . Các ngươi há chẳng quý trọng hơn loài chim sao?
Không, bạn chưa hề thấy một con chim lo lắng bao giờ đâu! Chúng ta có thể học hỏi bí quyết sống giống như loài chim vậy. Chúa Jesus bảo chúng ta không được lo lắng về những gì mình ăn, uống hoặc về những đồ mặc mà chúng ta cần. Thật vậy, Ngài phán, đời sống chúng ta phải khác biệt với những kẻ không tin là người phải chạy theo những thứ ấy. Chúng ta cũng phải vô tư lự như loài chim vậy.
Điều này có đúng với hầu hết những Cơ Đốc nhân mà bạn biết không? Điều này có đúng với bạn không? Điều gì sẽ xảy ra nếu như ngày mai bạn bị mất việc? hoặc nếu công việc làm ăn của bạn bị phá sản, hoặc những đầu tư của bạn trở nên không thuận lợi? Điều gì xảy ra nếu Đức Chúa Trời kêu gọi bạn bán hết mọi sự bạn có và đi hầu việc Chúa ở các hội truyền giáo? Liệu bạn có thể tin cậy Ngài trong những nhu cầu của mình không?
Đó là điều mà nhiều Cơ Đốc nhân gọi là sống bởi đức tin – ý họ muốn nói rằng những nhà truyền giáo hoặc những mục sư trong các hội thánh nhỏ là người hầu việc Chúa không lương và có thể không thường xuyên có những người chu cấp hoặc không hề có một thu nhập nào cả. Tuy nhiên, tôi muốn mở rộng cụm từ này. Chúa Jesus muốn hết thảy chúng ta phải sống bằng đức tin như chúng ta sẽ thấy trong các chương tiếp theo của quyển sách này – Mọi người – được trả lương hoặc không được trả lương đều có đặc quyền chứng kiến Đức Chúa Trời cung ứng các nhu cầu của họ.
Nhưng trước hết, đức tin là gì? Và bạn làm thế nào để có được đức tin? Có phải đức tin bắt cặp mắt bạn phải nhắm lại và hoàn toàn tin cậy rằng ông già Noel là có thật không? Dầu bạn có dễ tin đến đâu thì ông già Noel cũng không bao giờ có thật. Một ý tưởng như vậy hoàn toàn là do tưởng tượng. Ngược lại Đức Chúa Trời là Đấng có thật dầu bạn có tin Ngài hay không. Sự hiện diện và quyền năng của Ngài không liên quan đến lượng đức tin bạn có nhiều hay ít.
Đức tin có đòi hỏi bạn phải loại bỏ lý trí và lao mình vào vách đá nguy hiểm của một tình huống bất khả thi không? Không đâu! Spren Kierkegaard đã phổ biến rộng rãi cụm từ “Một sự liều lĩnh của đức tin đui mù”. Song đức tin theo Kinh Thánh thì không liều lĩnh và cũng không mù lòa nhưng là đức tin đang bước đi trong ánh sáng.
Kinh Thánh phán rằng đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ của những điều chẳng xem thấy (HeDt 11:1). Nói khác đi đức tin là tin rằng điều đó sẽ xảy ra trước khi nó xảy ra. Đức tin tin rằng bạn sẽ có được điều mình cần ngay cả khi bạn không có gì cả. Đức tin là sự bảo đảm vững vàng nơi bản tánh của Đức Chúa Trời, biết rõ rằng dẫu bạn không nhìn thấy được giải pháp cho nan đề của mình thì Đức Chúa Trời vẫn làm được.
Đức tin theo Kinh Thánh không phải chỉ là sự ao ước của suy nghĩ – nó không dựa trên việc vì mong muốn cho những tham muốn vị kỷ của bạn quá sức, nên bằng cách nào đó làm cho bạn có được “đức tin” và được những điều đó. Cũng không phải đó là một sự tập trung nào đó của “các sức mạnh” tâm trí hoặc tâm linh của bạn để được điều bạn muốn.
Đức tin dựa trên Kinh Thánh đến từ việc…
. Biết rõ điều Chúa muốn bạn làm
. Vâng phục bất cứ điều gì Ngài bày tỏ cho bạn thực hiện, sau đó…
. Tin cậy Ngài để làm điều bạn không thể làm theo phương cách của Ngài và trong thời điểm của Ngài.
Có một bài thánh ca mà chúng ta thường hát, đó là “Tin cậy vâng lời, nào nhờ cách gì…”. Tôi xin đề nghị, chúng ta hãy đảo thứ tự của các từ: “Vâng lời, tin cậy…” và để cho Chúa hành động.
Theo RoRm 10:17 “…Đức tin đến khi người ta nghe sứ điệp, và sứ điệp được nghe qua Lời của Đấng Christ”. Đức tin đặt cơ sở trên việc nghe những gì Đức Chúa Trời phán với bạn qua lời đã được viết ra của Ngài – lời Logos – và trong lời lẽ cụ thể, mạnh mẽ của Ngài dành cho riêng bạn – lời Rhema. Đức tin dựa trên Kinh Thánh không tuyên bố một điều gì đó lố bịch, rồi chờ đợi điều đó phải xảy ra. Dẫu cho Ngài có yêu cầu bạn phải làm một điều gì đó dường như bất khả thi, thì đó cũng sẽ không bao giờ là lố bịch cả. Đức tin dựa trên Kinh Thánh bắt đầu với việc nghe tiếng Chúa. Sự dẫn dắt thật của Đức Thánh Linh lời Rhema, không bao giờ mâu thuẫn với, hoặc lời Logos hoặc bản tánh của chính Đấng đã viết lời Logos.
Biết rõ điều Chúa muốn bạn phải làm là phần thứ nhất của đức tin dựa trên Kinh Thánh. Thứ hai là bước những bước vâng lời mà Ngài tỏ cho bạn. Đức tin dựa trên Kinh Thánh đòi sự hành động về phía của bạn. Đó không phải là phần thụ động, tiêu cực.
Một điển hình đáng lưu ý của vấn đề này đã xảy ra vài năm trước, khi đang sống tại Trường Truyền Giáo của chúng tôi ở tại Thụy sĩ. Tôi thuộc trong một nhóm cầu thay cùng với các nhân sự trẻ tuổi, thì Chúa tỏ cho tôi một điều rõ ràng, sứ mạng của chúng tôi là chuẩn bị để bắt đầu một nông trại. Thật là một sự ngạc nhiên hoàn toàn. Chúng tôi nào có cầu nguyện cho chuyện nông trại, nhưng lời ấy đến với tâm trí tôi thật rõ ràng. Vào thời ấy, trong tổ chức YWAM, chúng tôi có một số đất đai được sử dụng cho việc huấn luyện và truyền giảng của các hội truyền giáo. Tôi thuật cho nhóm chúng tôi sự tỏ bày này, và chúng tôi hiệp nhau cầu hỏi Chúa hãy cho chúng tôi biết rõ có phải điều đó đến từ Ngài hay không. Tâm trí tôi mau chóng bắt đầu làm việc với ý tưởng ấy. Tôi có thể hình dung được nông trại là một nơi thích hợp để huấn luyện các nhà truyền giáo, cũng như cung cấp lương thực cho họ và những người khác.
Chẳng bao lâu, lời của Chúa đã được khẳng quyết với từng người hoặc từng cặp các anh em khác trong nhóm cầu nguyện; thế là chúng tôi kết thúc thì giờ của mình bằng sự tạ ơn Chúa. Chúng tôi tin cậy Ngài đã tỏ bày điều đó.
Ngày hôm sau là thứ bảy, trong lúc ra khỏi trường để tập chạy vào một buổi sáng mùa xuân mù sương, tôi băng ngang một trại gần trường. Một cuộc bán đấu giá đang diễn ra ở đó và tất cả các nông cụ đều được bán “xôn”. Ngay lập tức, tôi biết mình phải làm một điều – một hành động của đức tin để tiếp tục đi tới cùng điều Chúa đã hứa ngày hôm trước. Tôi nhanh chóng quay về rủ Joe Portale và Heinr Siuter, hai nhân sự nói tiếng Pháp của chúng tôi. Chúng tôi quay trở lại bãi đấu giá kịp thời để mua được một chiếc xe ngựa, một cuộn dây thép gai và một thùng sữa.
Chúng tôi lôi chiếc xe ngựa về nhà bằng cách kéo nó như một toa móc đằng sau chiếc xe hơi. Rồi để nó ở bãi cỏ phía trước trường và dẹp hết các thứ khác cho đến khi Đức Chúa Trời ban cho chúng tôi một nông trại của chính mình. Tôi đoán điều đó trông hơi lố bịch đối với một số người, song chúng tôi đơn sơ đủ để tin rằng Đức Chúa Trời đã hứa và Ngài sẽ làm thành.
Cuối tuần, một trong các thành viên hội YWAM của chúng tôi, là một người châu Âu trở về nhà để thăm bố mẹ. Cô nói với cha mình, là một Mục sư người Thụy sĩ rằng “Đức Chúa Trời vừa cho chúng con biết chúng con sẽ có một nông trại!”
Một số các bậc phụ huynh hẳn sẽ tức cười hoặc thậm chí phê phán một câu nói như vậy. Nhưng bố của cô gái trẻ này tình cờ lại thuộc ban chấp hành của một giáo đoàn nằm trong một nông trại xinh đẹp (trị giá hơn một triệu Mỹ kim vào thời điểm đó). Các vị lãnh đạo giáo đoàn nhận thấy rằng công việc của họ đã hoàn tất. Đã nhiều năm, họ vẫn đang muốn tìm một tổ chức Cơ Đốc để tặng lại nông trại đó.
Vì thế là chúng tôi được tặng không một nông trại trị giá một triệu Mỹ kim! Khoảng chi tiêu lớn nhất của chúng tôi cho nông trại là 1000 Franc Thụy sĩ mà tôi đã trả cho chiếc xe ngựa, cuộn dây thép gai và thùng sữa! Suốt hai mươi năm qua, hiện nay nông trại này đang nằm ở Burtigny, Thụy sĩ là một địa điểm để môn đệ hóa những người trẻ và chu cấp lương thực cho nhiều nhân sự của các hội truyền giáo. Chiếc xe ngựa còn lại như vật trang hoàng cho bãi cỏ phía trước trường cho đến khi nó được chuyển đến nông trại. Tại đó cuối cùng nó đã rã ra từng mảnh do tác động của thời tiết. Dầu vậy, Heinz Suter (người hiện lãnh đạo công việc ở nông trại) đã giữ lại một mảnh của chiếc xe ngựa và dùng nó làm một bảng đồng kỷ niệm, khắc lời Kinh Thánh và anh ta tặng cho tôi. Vật kỷ niệm ấy luôn nhắc nhở tôi rằng Đức Chúa Trời sẽ chu cấp khi tôi bằng lòng bước những bước vâng phục bất cứ khi nào Ngài phán.
Bạn hãy nghĩ đến những phép lạ lớn lao trong Kinh Thánh. Chúng thường đòi hỏi những bước vâng lời trước nhất. Các bức tường của thành Giêricô đã đổ xuống, nhưng chỉ sau khi họ đã diễu hành suốt bảy ngày. Tướng quân Nahaman đã được chữa khỏi bệnh phung, nhưng chỉ sau khi ông đã thực hiện chuyến đi dài ngày, rồi sau đó phải nhúng mình bảy lần dưới sông Giôđanh, như lời truyền dạy của tiên tri Đức Chúa Trời. Chúa Jesus bảo người mù phải đi rửa mắt ở tại ao Silôê trước khi ông được chữa lành, Phierơ được bảo hãy đi câu cá để lấy đồng tiền và ông đã tìm thấy nó trong miệng của một con cá. Những bước vâng lời cụ thể sẽ dẫn đến phép lạ.
Phần thứ ba của đức tin là tin cậy Đức Chúa Trời thực hiện phần của Ngài.
Bất cứ khi nào chúng ta nói về sự tin cậy, chúng ta cũng phải biết rõ rằng Đấng mà chúng ta được kêu gọi để tin cậy nơi Ngài. Hãy thử tưởng tượng một người làm ăn buôn bán đến gặp bạn, yêu cầu bạn ký vào một hợp đồng, mà ông ta bảo “Anh không cần đọc hết văn kiện làm gì, cũng không cần biết gì về công ty cũng như các dịch vụ chúng tôi đang quảng cáo, chỉ cần tin tôi!”. Liệu bạn có tin được ông ta không?
Đó là lý do vì sao lòng tin cậy và đức tin đặt nơi Lời Chúa phải được đâm rễ vững nền trong sự hiểu biết bản tánh của Đức Chúa Trời và những công việc mà Ngài đã làm. Nghiên cứu những thuộc tánh của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh – tức là đã xem xét những lời hứa của Ngài được ghi trong bản hợp đồng (thường ghi bằng chữ nhỏ, dầu rất quan trọng song dễ bị bỏ qua). Hãy đọc những câu chuyện về sự thành tín của Ngài, cả trong Kinh Thánh lẫn trong các thời hiện nay. Bạn hãy viết xuống tất cả những lần trong quá khứ khi bạn biết rõ ràng Đức Chúa Trời đã bày tỏ ra cho bạn. Và rồi khi bạn đã xác quyết cách sâu nhiệm về sự đáng tin cậy hoàn toàn của Ngài, bạn sẽ có được đức tin.
Đôi khi sống bởi đức tin có nghĩa là chờ đợi, là cho Ngài cơ hội hành động. Một nông gia mô tả điều đó cho tôi như vầy: Đức Chúa Trời bảo bạn hãy đi ra leo lên một cành cây lớn. Khi đã leo lên và nghe tiếng động! Bạn quay lại và thấy ma quỷ với một chiếc cưa máy, đang cưa cành cây bạn ngồi. Đức tin dựa trên Kinh Thánh bảo hãy cứ ở trên đầu ngọn cây ấy và theo dõi satan tiếp tục cưa cho đến khi toàn bộ cả cây đổ nhào với cả hắn trong đó…và bạn vẫn ở trên đầu ngọn cây của mình! Đó là đức tin. Không phải đức tin đặt nơi thân cây, cũng không phải đức tin đặt nơi cành cây. Mà là đức tin đặt nơi Lời Đức Chúa Trời và đức tin đặt nơi Đấng đứng đằng sau Lời Ngài.
Nhiều Cơ Đốc nhân không bao giờ chứng tỏ được sự đáng tin cậy của Đức Chúa Trời trong phạm trù này của đời sống họ – họ tự lo liệu cho mình về mặt tài chánh, không bao giờ dám bước ra trong một hoàn cảnh bấp bênh! không hề dám làm một điều gì vượt khỏi bình thường. Thay vào đó, dường như họ đang hỏi các tài khoản có trong ngân hàng của họ như vầy “Ôi, tài khoản ngân hàng, cậu có cho phép tớ làm công việc này cho Đức Chúa Trời không?”
Những người lắng nghe tiếng Chúa phán sẽ tự họ khám phá ra rằng họ không thể nào hoàn thành công việc nếu không có sự giúp đỡ của Ngài. Họ sẽ bước những bước vâng lời, rồi sau đó để cho Đức Chúa Trời thực hiện phần của Ngài. Nói cách khác, đức tin dựa trên Kinh Thánh đòi hỏi bạn phải làm phần có thể làm được và giao cho Chúa phần không thể làm được. Đức tin chỉ hoạt động khi chúng ta không còn nguồn trợ giúp nào ngoài Đức Chúa Trời.
Tôi sẽ kể cho bạn câu chuyện về một thanh niên đã bước ra trong một tình huống bấp bênh đó. David Snider lúc ấy đang ở tại quần đảo British Virgin, giúp chúng tôi lo liệu những thứ còn thiếu sót cho các đội thanh niên chí nguyện trên các quần đảo khác nhau trong Kỳ Nhóm Mùa Hè của chúng tôi. Khi David đi đến St.John để mua đồ tiếp tế cho một đội, anh đã khám phá ra rằng đồ cung cấp tốn nhiều hơn khoản đã dự phòng. Anh phải trở về St.Thomas vào ngày Chúa nhật để dự các buổi nhóm, nhưng anh đã sử dụng tất cả các khoản tiền và không còn khoản riêng nào cho mình nữa. Anh cầu nguyện với đội thanh niên ở tại St.John và hết thảy đều thấy rằng anh phải lên đường ngay và trở về St. Thomas để kịp dự các buổi nhóm vào ngày Chúa nhật. Vấn đề duy nhất là làm thế nào để trả tiền tàu đây?
Đến ngày phải lên đường mà David vẫn không có tiền. Anh nhớ chuyến đi trước, tiền vé được thu vào giữa cuộc hành trình. Anh bắt đầu lên tàu, hơi ngần ngừ trước khi bước lên chiếc cầu thuyền. Anh đã thật sự lắng nghe đúng tiếng phán của Chúa chưa? Một lần nữa, một tiếng nói êm dịu bên trong anh rằng: Phải, hãy đi đi!
Anh tìm được một chỗ ngồi trên bong tàu giữa bảy mươi hành khách khác và không bao lâu sau đã bắt chuyện với những người ngồi kế bên anh – một Bác sĩ người Carib cùng với vợ ông ta. Họ lịch sự hỏi thăm anh về mục đích chuyến đi của anh giữa các quần đảo của họ, David đã giải thích một cách đơn sơ rằng anh đã ở đây với một nhóm thanh niên trẻ tuổi khác để nói về Chúa cho người dân vùng này.
Thời gian trôi đi thật nhanh chóng – quá nhanh đối với David, là người vẫn giữ được bầu không khí thoải mái tự nhiên trong lúc trò chuyện với các vị khách mới của mình. Họ sẽ nghĩ gì khi anh ta bị bắt gặp như một kẻ đi lậu vé sau khi đã chia xẻ về Chúa cho họ? Không lâu sau đó anh đã nhận ra người nhân viên trong đội hàng hải đang đến thu tiền vé. David tiếp tục cuộc trò chuyện vui vẻ, khẽ liếc xuống boong tàu để lưu ý buớc tiến của anh ta đang tiến về phía mình.
Rồi người nhân viên đã đến, đứng ngay trước mặt David. Trong khi David cho tay vào chiếc túi trống không của mình thì vị Bác sĩ bảo “Ồ không, đây, hãy để chúng tôi trả tiền tàu cho anh!”
Có lẽ bạn chưa bao giờ ở trong hoàn cảnh của David. Và một lần nữa, có lẽ bạn khám phá ra chính mình trong những tình cảnh buộc phải có sự can thiệp triệt để từ nơi Đức Chúa Trời. Làm thế nào mà bạn biết chắc được rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ chặt bạn khi ma quỷ cưa đi cành cây của bạn? Bí quyết chính là vâng lời Chúa và có được sự hiểu biết riêng tư với Đấng mà bạn đang tin cậy.
Chúa có thể kêu gọi bạn giữ một công việc với một khoản tiền lương; nếu bạn vâng lời Ngài, điều đó có thể dẫn đến đời sống đức tin. Nếu bạn tiếp tục lắng nghe Ngài, cầu hỏi Ngài để biết cách sử dụng tiền lương của mình như thế nào và vâng lời Ngài trong mọi lãnh vực, bạn sẽ được sống bởi đức tin.
Ngài có thể dẫn dắt bạn để thực hiện các cuộc đầu tư. Nếu những đầu tư đó được thực hiện trong ý muốn của Đức Chúa Trời, vậy là bạn đang sống bởi đức tin dầu bạn kết thúc với một khoản lợi nhuận hay bị thua thiệt. Tôi được biết một nhà doanh nghiệp hiện nay vẫn thường được dẫn dắt để thực hiện các cuộc đầu tư vào Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trong thời gian vài năm. Ông đã phải thua lỗ tiền bạc trong mỗi một chuyến đầu tư mạo hiểm đó, nhưng Chúa đã giúp ông kiếm được tiền ở các cuộc kinh doanh khác hầu cho các cuộc đầu tư dũng cảm của ông vào bên trong Trung Hoa có thể dọn đường cho các Cơ Đốc nhân đi vào đất nước này để truyền giáo. Ông cũng đã kết bạn với một số các nhà lãnh đạo chính phủ, và đã làm chứng cho họ. Tôi muốn nói rằng bạn tôi là một nhà truyền giáo đầy đức tin theo đúng ý nghĩa của từ ngữ ấy.
Đức Chúa Trời có thể kêu gọi bạn đi đến một quốc gia với tư cách một nhà truyền giáo mang ý thức truyền thống nhiều hơn. Có thể Ngài dẫn dắt bạn để chia sớt gánh nặng của bạn với những người khác ngõ hầu họ được đặc ân giùm giúp cho công việc của bạn. Hoặc, Ngài có thể bảo bạn ra đi mà không có đồng xu nào trong túi, không có mối liên hệ nào trong xứ sở đó, không có nơi chốn để ở hoặc làm việc khi bạn đến đó. Hoặc cách nào đi nữa, thì bí quyết để sống bằng đức tin không phải là nằm trong một phương pháp. Mà bí quyết là phải lắng nghe, vâng lời, và tin cậy Đức Chúa Trời. Khi chúng ta vâng lời Ngài, Ngài tham gia giải quyết những điều rắc rối trong đời sống chúng ta và bởi vì tiền bạc ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của đời sống, Đức Chúa Trời sẽ bước vào lãnh vực tiền bạc của chúng ta bằng nhiều cách thú vị nếu chúng ta để Ngài bước vào. Trước nay bạn vẫn thường nghe câu nói “Đó là thứ bạn có thể cất vào nhà băng!” Đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời và lời Ngài phán với bạn là điều chắc chắn đó – bạn có thể mang nó đến nơi cất giữ của cải theo nghĩa đen.
TẠI SAO PHẢI SỐNG BẰNG ĐỨC TIN
Vì sao Chúa muốn chúng ta phải sống bằng đức tin? Thứ nhất, việc sống bằng đức tin chứng tỏ cho chúng ta và cho thế gian biết Đức Chúa Trời thực hữu.
Khi còn là một sinh viên ở tại trường Đại học thuộc miền Nam tiểu bang California, tôi có biết một giáo sư dạy môn triết. Ông ta dường như luôn tìm cách để phá đổ đức tin đặt nơi Chúa của các sinh viên. Ông là một con người khôn ngoan, song rất cay đắng, là con trai của một vị Mục sư, ông đã mất đức tin và trong suốt học kỳ sáu tháng ông tìm cách thách đố bất cứ kẻ nào có đức tin. Có những câu hỏi ông đã đặt ra khiến tôi không trả lời được lúc ấy. Nhưng có một điều tôi không thể phủ nhận được đó là sự kinh nghiệm cá nhân. Tôi đã từng chứng kiến quá nhiều điều xảy ra mà chỉ Chúa là Đấng thực hiện được.
Tôi tin đó là lý do chủ yếu khiến Đức Chúa Trời đã dẫn dắt chúng tôi vào hội “Thanh Niên Với Một Sứ Mạng” để yêu cầu mỗi một nhân sự phải tin cậy Ngài trong các nhu cầu về tài chánh của chính mình” đó là thức ăn, thức uống, đồ mặc (là những nhu cầu mà Chúa Jesus đã đề cập một cách cụ thể trong Mat Mt 6:31-33) cũng như chi phí của chuyến đi. Hàng ngàn cộng tác viên từ hơn 100 quốc gia hiện đã và đang ra đi khắp nơi trên thế giới, nhận lấy lời thách thức, tin rằng nơi nào Đức Chúa Trời chỉ dẫn thì Ngài lo liệu. Và nơi nào Ngài dẫn dắt thì Ngài nuôi họ!
Thoạt đầu, tôi đã băn khoăn. Sự chỉ dẫn của Ngài thì đã quá rõ ràng, tuy nhiên có ba hoặc bốn nhóm truyền giáo khác mà tôi đã phải trả lương, ít nhất là cho các thư ký của họ và những người lo công việc nội bộ. Nhưng Chúa phán với chúng tôi rằng sẽ không có những công việc được trả lương trong hội Thanh Niên Sứ Mạng. Mọi người – từ chính mình tôi cho đến người tình nguyện trẻ tuổi nhất, từ thành viên trong đội truyền giáo cho đến người thợ máy sửa xe của tập thể – đều phải tin cậy Đức Chúa Trời trong việc bảo dưỡng cũng như các chuyến công tác của người ấy.
Tôi không hề nghĩ rằng đây là cách duy nhất để điều khiển một tổ chức truyền giáo. Đó chỉ là cách Chúa dẫn dắt chúng tôi.
Lâu về sau, tôi mới biết rằng hầu như tất cả các ban chấp hành các hội truyền giáo với hơn một nhóm các giáo sĩ đã ra đi hoạt động truyền giáo trên một nền tảng cũng giống như vậy, tức là mỗi cá nhân tin cậy Chúa và đích thân chịu trách nhiệm về việc tự cấp dưỡng cũng như các chi phí trong chức vụ.
Từ lâu trước khi chúng tôi nhận ra vì sao Đức Chúa Trời lại dẫn dắt chúng tôi theo cách này, chúng tôi đã có được sự xác quyết rõ rằng Đức Chúa Trời thực hữu. Hoặc phải đối đầu với những sinh viên Mácxít hung hãn ở tại một trường đại học Mỹ Latinh hoặc của những sinh viên Âu Châu thông minh đầy vẻ tự mãn bàng quan, thì chúng tôi vẫn biết rõ Đức Chúa Trời thực hữu. Hoặc Ngài phải hành động, hoặc chúng tôi không thể nào có được ngân quỹ dành cho chuyến truyền giáo để đến được đó, hoặc không có gì để ăn sau khi chúng tôi đã đến nơi.
Số lượng không quan trọng khi bạn đang tin cậy Ngài. Nếu bạn không có số tiền bạn cần vào thời điểm bạn cần đến nó, thì thâm hụt mười Mỹ kim cũng như thiếu một triệu Mỹ kim. Một lần nọ khi Darlence và tôi vẫn còn là những người mới lập gia đình, chúng tôi đang trên đường băng qua Chicago để đến buổi họp kế tiếp của chúng tôi ở Wisconsin. Tiền của chúng tôi cạn đi mau chóng, phần lớn vì quá nhiều lệ phí cầu đường. Tuy nhiên, nếu chúng tôi tính toán bảng chi tiêu sít sao của mình thì chúng tôi phải tính khoản mãi lộ ấy vào. Dường như cứ ít dặm là chúng tôi phải chạy chậm lại để lấy hơn một đồng 25 xu từ khoản dự trữ cứ teo dần lại để bỏ vào một chiếc phễu chữ V lớn bên đường.
“Nhìn nầy, Darl”, tôi nói khi lục lạo những gì còn lại trong túi mình, và lôi ra được khoản lệ phí cuối cùng “Ba mươi lăm xu”. Đó là 25 xu cho tiền lệ phí và 10 xu để gọi điện cho Mục sư Wilkerson khi chúng tôi đến nơi, ở tại Kenosha. Nàng bật cười khi tôi bỏ đồng 25 xu vào phễu và nhấn ga tiếp tục chạy vào đường cao tốc có lệ phí. “Cám ơn Chúa! Chúng ta vừa xong!”, nàng nói. Tôi đồng ý nhưng niềm vui của tôi không được bao lâu.
Chúng tôi chưa đi được bao xa trước khi có một biển hiệu khác…cho chúng tôi biết phải giảm tốc độ và chuẩn bị nộp một khoản mãi lộ khác. Lạy Chúa, chúng con phải làm gì đây? Tôi nhìn sang Darl, nhưng nàng đã dốc cạn sạch ví rồi, xem xét thử còn đồng bạc nào vì lý do gì đó còn lẫn trốn nàng chăng. Chúng tôi cần phải có 25 xu và cần có ngay bây giờ.
Ngay khi đó, một ý tưởng chợt đến với tôi. Hãy tấp sang một bên và mở cửa sau. Tôi làm theo và kìa, giữa cánh cửa và khung sườn của chiếc xe, một đồng 25 xu nằm ở góc cuối. Một đồng xu lớn làm sao! Tôi chưa bao giờ trông thấy một đồng 25 xu lớn như thế trong đời.
Một sự trùng hợp chăng? Tôi không cho là như vậy.
Vào những lần khác, nhu cầu thường lớn hơn nhiều. Buổi đầu trong chức vụ hầu việc Chúa của chúng tôi, Darlene và tôi ở tại Edmonton, thuộc Alberta – Canada. Chúng tôi nhận được một cú điện thoại do người thư ký của mình từ Pasadena gọi về.
“Loren, tôi không biết chúng ta phải làm gì bây giờ?” Lorraine Theetge nói. Chúng tôi có thể nhận thấy giọng nói rõ ràng là căng thẳng của cô ấy dầu qua đường dây dài “Chúng ta không còn khoản thu nhập nào trong lúc này hết, và tổng số tiền phải trả hiện nay đã lên đến…5.200 Mỹ kim!
Tôi bảo cô ta chúng tôi sẽ cố gắng để làm một điều gì đó. Nhưng khi gác máy, tôi cảm thấy hoàn toàn bị chìm ngập. Chúng tôi đã từng ở trong tình huống bấp bênh về mặt tài chánh hàng tháng, nhưng hoàn toàn bất ngờ khi phải đối diện với một khoản nợ lớn như vậy.
Tôi buông mình xuống chiếc giường trong căn nhà nơi chúng tôi đang ở “Lạy Chúa”, tôi kêu lên “Nhu cầu này là của ngài, con không thể giải quyết nổi!” Vài giây sau, chuông điện thoại lại vang lên chói tai. Lorrain gọi trở lại.
“Loren, thử đoán xem điều gì đã xảy ra?”, giọng nói của Lorraine thật xúc động qua đường dây “Chúng tôi vừa nhận được một ngân phiếu hai ngàn Mỹ kim từ một ngân hàng Anh”. Cô ta tiếp tục cho biết đó là số tiền của một ân nhân ẩn danh thuộc một quốc gia trong thế giới thứ ba, và rằng ngân hàng Anh quốc chỉ mới báo tin đó cho văn phòng chúng tôi. “Và ông có biết còn gì nữa không ông Loren? Tôi đã gọi cho nhà băng chúng ta để hỏi tỉ lệ chuyển đổi đồng Anh sang Mỹ kim ngày hôm nay là bao nhiêu và tính ra chính xác là 5.200 Mỹ kim!”
Một sự trùng hợp ư? Không thể có được!
Việc Chứng Minh Đức Chúa Trời Thực Hữu
Một người bạn của tôi, Brother Andrew được nhiều người biết đến với danh hiệu “Nhà Buôn của Đức Chúa Trời” đã nói như vầy: Giả sử bạn phải băng qua một khu rừng rậm và có một con sư tử lặng lẽ tiến về phía bạn mà bạn không hề hay biết. Ngay lúc ấy ở đâu như từ trời rơi xuống, một quả dừa từ trên cây cao dội ngay vào đầu con sư tử và nó ngã lăn kềnh ra bất tỉnh. Bạn quay lại, kinh ngạc và hú vía. Đó có thể là một sự trùng hợp, chỉ là may mắn. Nhưng nếu như qua ngày hôm sau điều đó lại xảy ra một lần nữa thì sao? Một con sư tử khác lại phóng tới và có thêm một quả dừa nữa rơi trúng đầu nó, và rồi ngày tiếp theo cũng có một con sư tử khác và một quả dừa may mắn khác. Phải xảy ra bao nhiêu lần như vậy trước khi bạn có thể biết rằng đó không phải là sự tình cờ?
Trong hội truyền giáo của chúng tôi, mỗi năm có đến hơn 20.000 người tình nguyện tham gia hầu việc Chúa ngắn hạn cộng với hơn 7.000 nhân sự trọn thời gian, cùng cộng tác để làm chứng Tin lành qua các chức vụ hầu việc thường xuyên đặt cơ sở tại hơn 100 quốc gia trên thế giới. Các đội ngũ lưu động ra đi với tình yêu của Đức Chúa Trời đến với mọi miền dân cư trên đất. Những con người này được chứng kiến những vận may hoặc “trùng hợp” tương tự cứ lặp đi lặp lại. Một số anh em trong chúng tôi đã từng trải những điều đó ngay trong thập kỷ này. Tôi xin thuật lại cho bạn câu chuyện của một người lãnh đạo nhóm, tên anh ta là Neville Wilson, một người dân thuộc đảo Fiji, được sinh ra và nuôi dưỡng ở tại Tân Tây Lan, hiện nay là vị lãnh đạo hội YWAM ở tại Tonga và Nam Thái Bình Dương.
“Chúng tôi đang ở vào hoàn cảnh của một đội tiên phong ở tại Nadi, Fiji. Bảy thành viên trong tổ chúng tôi đều là dân đảo Fiji. Chúng tôi không thể đưa bất cứ người ngoại quốc nào vào với tư cách là một nhân sự bởi vì tình trạng giấy phép thị thực ở đây. Khi chúng tôi nghe rằng có các vị khách sắp sửa đến, chúng tôi thường phải đi bộ năm cây số đến phi trường. Không có tiền để đón taxi, nhưng cứ mỗi lần như vậy, Đức Chúa Trời đã dự bị để chúng tôi có thể đưa các vị khách của mình về nhà bằng Taxi.
“Một lần nọ, khi đón tiếp một người tại sân bay, chúng tôi đã gặp một người bạn địa phương, anh ta biếu cho chúng tôi một số tiền mà chẳng hề hay biết nhu cầu của chúng tôi. Đức Chúa Trời cũng đã dự bị cho chúng tôi có thêm lương thực cho các vị khách nữa. Thậm chí còn đủ tiền để đưa họ trở lại phi trường bằng taxi, rồi sau đó khi họ đã đi khỏi, chúng tôi đi bộ trở về, vui cười vì cách Đức Chúa Trời đã lại thực hiện điều đó một lần nữa.
“Trung tâm YWAM của chúng tôi là một ngôi nhà cũng giống như nhà của những người hàng xóm nằm ngoài các cánh đồng trồng mía, phần lớn là trải chiếu trên sàn nhà. Một buổi chiều nọ, khi chúng tôi đang ngồi vòng tròn, thì một phụ nữ địa phương bước vào với năm ổ bánh mì. Chừng đó đủ nuôi bảy người chúng tôi trong vài ngày. Nhưng 15 phút sau lại có người gõ cửa với nhã ý muốn biếu chúng tôi một số bánh mì. Sau đó có thêm một người hàng xóm đem cho thêm một số bánh mì nữa. Trong vòng một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã được tất cả mười bốn ổ bánh.
“Sao chúng ta lại được cho nhiều bánh như thế này?” Vợ tôi thắc mắc “Hẳn là có ai đó sắp đến thăm?”. Chưa đầy một giờ sau chúng tôi được biết rằng sắp có một nhóm gồm 15 người từ Tân Tây lan sẽ đến thăm vào tối hôm đó”.
Những lần khác, Đức Chúa Trời đã ban cho Neville và Sue một điều có ý nghĩa hơn bánh mì, nhiều hơn các thứ cần thiết thật sự. Đó là vào ngày lễ Giáng sinh năm 1979, khi họ đang ở tại Maui thuộc Hawaii, trong một đội truyền giáo cùng với một số những người khác. Neville ngồi dưới vòng cổng trước ngôi nhà nơi họ đang ở, cảm thấy cô đơn. Cha anh đã qua đời trước đó vài tuần. Neville còn nhớ cha anh luôn luôn chuẩn bị một cái đùi lợn muối sấy khô cho bữa tối Giáng Sinh của họ.
Bất chợt, Neville ao ước “Ôi, mình muốn có một cái đùi giăm bông ngay bây giờ”. Vài phút sau, một chiếc xe tải nhỏ, không mui, màu đen gầm rú, chở theo những người địa phương Hawaii trông thô bạo. Trước sự ngạc nhiên của Neville, họ rẽ ngay vào miếng đất phía trước nhà và một anh chàng to con đứng lên, ném một chiếc giăm bông vào anh và hét lên “Chúc Mừng Giáng Sinh!”
Lời Chúa phán trong IISu 2Sb 16:9 rằng: “Con mắt của Đức Giêhôva soi xét khắp thế gian, đặng giúp sức cho kẻ nào có lòng trọn thành đối với Ngài”
Vị giáo sư Triết của tôi ở trường Đại học Nam Califonia đã dạy rằng không thể nào chứng minh được một khía cạnh tiêu cực của triết học. Nhưng bạn có thể chứng minh được khía cạnh tích cực của triết học. Lời Chúa phán rằng Đức Chúa Trời là Đấng Thành Tín và rằng người công bình sẽ chẳng hề bị đói, và dòng dõi người cũng không phải đi ăn mày (Thi Tv 37:25). Đó là một khía cạnh tích cực của triết học có thể chứng minh được bằng cách đã được chứng minh qua những đồng tiền.
Hơn nữa, đức tin sẽ không là điều thật sự có nếu như nó không được minh chứng một cách thực tế trong thế giới thực hữu hằng ngày.
Một thử nghiệm đáng lưu ý để chứng tỏ sự thực hữu của đức tin được một thanh niên người Tô cách lan tên là George Patterson chứng minh vào những ngày sau thế chiến thứ II.
Tất cả bắt đầu với ba người thanh niên trẻ tuổi và một cuộc tranh luận ở tại một nhà hàng. George khẳng định rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời – mỗi một lời đều là thật. Người bạn thứ hai của anh ta là một người theo thuyết bất khả tri, là người cho rằng không thể biết được bất cứ điều gì về sự tồn tại của Thượng đế hoặc các thứ phi vật chất, từ chối không chấp nhận bất cứ điều gì quá mang tính phi khoa học như thẩm quyền của Thượng Đế, người bạn thứ ba của anh ta chỉ là một Cơ Đốc nhân trên danh nghĩa, không biết chắc Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, thậm chí cũng không chắc phần nào Lời Đức Chúa Trời trong đó nữa.
Cuộc bàn cãi sống động ấy tiếp tục kéo dài trong một lúc, lôi kéo sự chú ý của những người khách đang ăn bữa tối. Thế rồi George có một ý nghĩ táo bạo. Anh tuyên bố với hai người bạn mình rằng anh sẽ chứng minh Kinh Thánh một cách khoa học. Anh rút ví tiền ra khỏi túi.
“Tôi nói rằng có một Đức Chúa Trời, và Đấng ấy vẫn bày tỏ chính mình Ngài cũng như mục đích của Ngài cho con người biết, trong Lời Ngài và qua Lời Ngài…” Anh dốc sạch các thứ trong ví lên bàn ăn và đếm. Có tất cả hai bảng Anh và bảy đồng siling.
George nhìn thẳng vào mắt các bạn mình và tuyên bố “Tôi sẽ cho ai tất cả số tiền có trong nhà băng, không những thế tôi sẽ không bao giờ nghĩ đến các khoản tiền tiết kiệm của mình”. Anh nói với họ rằng anh phải lên đường sớm để học Y khoa vào tháng 9 chuẩn bị cho việc truyền giáo.
“Tôi chỉ mang theo hai bảng Anh và bảy đồng siling nầy cộng với phiếu lương chót. Trong khi ở tại Luân đôn suốt những tháng sắp tới, tôi sẽ không có một nguồn cung cấp hoặc sự cấp duỡng nào về tài chánh. Tôi sẽ chỉ có một mình Chúa.
“Tôi lập với các bạn một lời hứa”, anh nghiêm trang nói “Tôi sẽ không nói với một người nào, ngoài hai bạn điều tôi dự định thực hiện, hầu cho đó sẽ là điều chỉ ba chúng ta và Chúa mà thôi. Tôi sẽ không nói cho bố mẹ tôi hoặc để cho một hội thánh nào hay một tập thể truyền giáo nào biết điều đó. Tôi sẽ không ăn mặc khác đi hoặc thay đổi kiểu sống để hàm ý cho mọi người biết rằng tôi đang thiếu tiền…bất cứ điều gì tôi cần, sẽ phải được Đức Chúa Trời chu cấp. Nếu như tôi phải cầu hỏi một con người để được cứu giúp thì tôi hứa với các bạn, tôi sẽ trở về nhà và không bao giờ còn nhắc đến việc chu cấp của Đức Chúa Trời hoặc niềm tin của tôi đặt nơi Chúa nữa”.
George Patterson vì vậy đã buớc vào cái mà anh gọi là “Trò Mạo Hiểm” với “sự tin cậy hoàn toàn nơi Đấng Toàn Năng”. Trong trận đánh cuộc này, như mọi người đều biết, anh ta chỉ là một sinh viên xuất thân từ một gia đình giàu có đi học bằng tiền của mình mà không thấy thiếu thốn gì cả.
Tuy nhiên, ngay lập tức, Đức Chúa Trời đã bắt đầu sai phái những người đến với anh ta với những lượng tiền nhỏ. Họ nói “Chúa bảo tôi gởi khoản này cho anh..” Hoặc “cái này là Chúa cho, anh cứ nhận”. Luôn luôn khác nhau, nhưng luôn luôn có mặc dầu đôi khi chỉ trong vòng vài phút trước khi anh cần.
Ngoại trừ một điều: Số tiền không đến với anh đủ trọn một chuyến đi cần thiết để trở về nhà. Bởi vì không có toàn bộ tiền vé để đi từ Luân đôn, nên anh đi tàu thật xa chừng nào được chừng nấy, rồi sau đó đi bộ hai ngày nữa để đến được Tô cách lan. Sau này Patterson nói anh nghĩ rằng đó là một sự thử thách đức tin. Anh tin rằng Chúa muốn thấy trong hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy anh có thể cứ tiếp tục tin cậy Ngài như thế nào.
Điều đó không những chỉ là sự đánh cuộc của một sinh viên muốn tự mình chứng minh lẽ phải cho các bạn. Kinh nghiệm tin cậy Chúa của George Patterson khi còn là sinh viên chứng tỏ đó là điều rất cần thiết cho việc anh đi đến Tibet. Vào những ngày đó Tibet không có mối liên kết với hiệp hội bưu điện Quốc tế – Phương tiện hổ trợ thông thường của các hội truyền giáo cũng vô hiệu. Anh còn phải đối diện với các tư tế người Tibet với các sức mạnh huyền bí gây ấn tượng mạnh, rồi đến sự giam cầm và bắt bớ từ nơi tay của những người Cộng sản Trung quốc khi họ nắm quyền kiểm soát đất nước. Toàn bộ câu chuyện của anh ta được thuật lại trong tác phẩm của anh “God’s fool” (Sự rồ dại của Đức Chúa Trời). Nhưng trước khi đặt chân tới Tibet hoặc Trung quốc, anh đã chứng minh được Kinh Thánh là thật. Anh đã liều mình và đã thắng cuộc.
Nhìn Thấy Đức Tin Của Bạn Gia Tăng
Nếu lý do thứ nhất của việc sống bằng đức tin là để chứng minh sự thực hữu của Đức Chúa Trời, thì lý do thứ hai là để nhìn thấy đức tin của chúng ta gia tăng. Hết thảy chúng ta đều được ban cho một lượng đức tin. Theo Rôma 12. Đức tin là một sự ban cho. Nhưng qua sử dụng, đức tin phải được lớn lên. Đức tin gia tăng khi chúng ta thực hành nó. Điều đó cũng giống như việc tập thể dục – sự khác nhau giữa những người thuộc hội Arnold Sehwarzeneggers với những người còn lại trong chúng ta là sự cam kết của họ để gia tăng sức mạnh và làm rắn chắc các bắp thịt bằng việc tập luyện “Không chịu gian khổ thì sẽ không thâu đạt được kết quả”. Họ đã nhắc nhở chúng ta khi nêu một gương về tính chịu khó để chúng ta học hỏi.
Trong đời mình, đã có giai đoạn tôi cực kỳ yếu ớt. Trong nhiều ngày, tôi không thể nhấc đầu lên khỏi gối. Rồi một ngày nọ, tôi đã có thể nhấc đầu lên được một tí. Tôi vẫn cứ tiếp tục làm thế, bởi vì đó là tất cả những gì tôi có thể làm được. Sau một thời gian tôi lớn lên và đủ mạnh để xoay trở trên giường mình. Sau vài tháng, tôi có thể di động, nhưng chỉ bò được thôi. Tôi không đứng hoặc nói được. Thế rồi một ngày kia, khi đã tròn một tuổi, cuối cùng tôi đứng lên được và đi chập chững.
Thậm chí lúc ấy, vẫn còn một vấn đề gây khó khăn cho tôi, được gọi là lực hút. Tôi có thể bước vài bước và ngã nhào, cứ như vậy mãi, song khi tôi vận động mỗi ngày, chống lại sức hút thì dần dần tôi trở nên vững mạnh hơn, và ít ngã hơn. Cuối cùng, tôi thậm chí còn chạy và nhảy được.
Tôi nhận thấy kinh nghiệm của mình không có gì là khác biệt so với mọi người. Nhưng bạn có bao giờ suy nghĩ đến quá trình Đức Chúa Trời đã dự định khi cho chúng ta phải kinh qua giai đoạn thơ ấu chăng? Nếu như không có lực hút thì có phải là mọi sự sẽ dễ dàng hơn không? Những đứa bé chập chững có thể nhảy hoặc lướt hỏng trên mặt đất thay vì phải vật lộn để đứng được. Nhưng cuộc vật lộn ấy là điều cần thiết để giúp cho các bắp thịt của chúng ta phát triển.
Tương tự, nếu chúng ta chẳng bao giờ có các nhu cầu trong đời sống, nếu chúng ta có thể làm mọi việc mà không cần đến sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, thì làm thế nào chúng ta có thể học tập để tin cậy Ngài. Các môn đồ đã kêu lên rằng: “Xin thêm đức tin cho chúng tôi” (LuLc 17:5) . Họ đã từng thấy Chúa Jesus làm rất nhiều phép lạ. Chắc chắn Ngài có thể lập tức truyền lại đức tin cho họ. Nhưng họ đã phải đi qua một quá trình như chúng ta vậy. Cũng như sự sống được hà hơi vào chúng ta, đức tin là một sự ban cho của Đức Chúa Trời. Nhưng để cho đức tin gia tăng, nó phải được sử dụng và thử nghiệm.
Sheila Walsh được hàng triệu người biết đến bởi chức vụ hầu việc của cô trong lãnh vực âm nhạc và công tác với tư cách phụ tá người dẫn chương trình truyền hình Cơ Đốc “Câu Lạc Bộ 700”. Nhưng trước khi tên cô ta trở nên quen thuộc với rất nhiều người như vậy, cô cũng là một thiếu nữ trẻ đã bước ra để đức tin non trẻ của mình được thử nghiệm, Sheila đã được nghe về một cuộc truyền giảng của hội Thanh Niên Sứ Mạng đang được hoạch định trong các Cuộc Đại Hội Olimpic Mùa Hè ở tại Montreal vào năm 1976. Là một sinh viên ở tại trường Cao Đẳng Kinh Thánh Luân Đôn, cô khao khát được ra đi và làm chứng niềm tin của cô với những người khách của Đại Hội Ôlimpic từ khắp nơi trên thế gới.
Khó khăn duy nhất đó là cô không có tiền, cô nói “Vào lúc ấy, cô không đủ tiền để sắm một cái quần jean mới nữa, chứ đừng nói đến chuyện mua một vé máy bay đi Canada”. Thế nhưng cô đã cầu nguyện và cảm thấy một sự đảm bảo mạnh mẽ rằng cô phải đi Montreal. Sheila cũng tin rằng cô không phải nói với ai về nhu cầu của mình, mà chỉ cầu nguyện với Chúa thôi.
Thế rồi, trong giữa những tuần lễ ấy, số tiền cũng đã đến, từng ít một. Người ta bắt đầu gởi cho cô những khoản tiền nhỏ, gần đến số cô cần. Sheila đã có đủ tiền vé máy bay khứ hồi từ Luân đôn đến Newyork, với một ít đủ để đón xe đến Montreal. Nhưng cô vẫn còn cần đến 70 Mỹ kim để từ Montreal về NewYork.
Sheila không băn khoăn lắm. Há không phải Đức Chúa Trời đã lo liệu hàng trăm Mỹ kim cho cô lên đường rồi sao? Cô đến Montreal và hưởng hai tuần lễ truyền giảng với 1.600 anh em tình nguyện khác của chúng tôi từ nhiều quốc gia đến. Mỗi ngày, cô đi ra các đường phố và công viên thuộc Montreal để làm chứng. Và mỗi ngày cô chờ đợi để xem Đức Chúa Trời đưa cô về quê nhà như thế nào.
Gần cuối kỳ họp mặt, tôi tập họp tất cả 1.600 anh em tình nguyện để dự một buổi nhóm ngoài trời ở bãi cỏ phía trước tòa nhà cũ mà chúng tôi đã mua làm trung tâm huấn luyện. Mặc dầu lúc ấy tôi chưa biết Sheila, song tôi biết rằng có nhiều thanh niên đã tin cậy Chúa để đến đây dự nhóm dầu không mua nổi vé khứ hồi. Tôi hỏi những ai có nhu cầu về tài chánh hãy đứng lên và bước tới phía trước đám đông. Hàng trăm người đã tiến lên phía trước. Sau đó tôi bảo mọi người hãy cúi đầu và cầu hỏi Chúa để tỏ cho họ biết ai là người họ cần đi đến và cần cho họ bao nhiêu.
“Và đừng bỏ việc dâng hiến chỉ vì chính mình đang có nhu cầu”. Tôi nhắc nhở số người đang đứng ở phía trước.
Sheila nhớ rằng cô nghĩ như vầy “Tuyệt quá! Đây chính là chỗ mình sẽ kiếm được 63 đồng nữa, vì mình đã có được 7 đồng rồi. Nhưng thật là ngạc nhiên Sheila nhận được một cảm giác mạnh mẽ bảo cô hãy dâng hết 7 đồng cô đang có. “Chúa không thể bảo mình làm như vậy”, cô nghĩ “Cho đi số tiền duy nhất mình có thì chắc chắn là một hành động vô trách nhiệm”.
Tuy nhiên, Đức Thánh Linh vẫn tiếp tục thúc giục cô cho đến khi cô không thể nào từ chối được sự chỉ dẫn của Ngài. Cô khẽ bước đi quanh nhóm người ấy, ai nấy đều đang cúi đầu khẩn thiết cầu nguyện hoặc đang ôm chặt một người nào đó và trao tiền vào tay người ấy. Thật là một cảnh tượng lạ lùng và kỳ diệu.
“Lạy Chúa, Ngài muốn con trao cho ai số tiền 7 đồng này?” Sheila cầu nguyện. Và rồi cô trông thấy một cô gái tóc vàng, và cô biết mình phải trao số tiền cho cô bé này. Khi Sheila dúi 7 đồng vào tay cô bé tóc vàng, cô ta siết chặt Sheila và cười thật rạng rỡ “Đây đúng là số tiền em cần!”
Lòng đầy khích lệ, Sheila tìm về lại chỗ của mình. Nhưng đến lúc ấy, buổi nhóm đã kết thúc và mọi người ra về. “Chúa ôi, còn số 70 đồng của con thì sao? Con đã vâng lời, và bây giờ con sắp sửa phải sống ở Canađa đến hết đời!”
Cô tìm thấy một chỗ yên tĩnh bên bờ một con sông nhỏ nằm sau trung tâm YWAM. Cô ngồi xuống đó và tuôn đổ mọi lời than trách với Chúa. Sau một lúc, cô nghe tiếng Ngài phán bên trong lòng mình “Sheila, con tin cậy Ta, hay con chỉ tin những gì con hiểu được mà thôi?”. Cô gục đầu xuống và để mặc cho nước mắt tuôn tràn, xin Chúa tha thứ cho mình vì sự vô tín.
Sáng hôm sau, mọi người thu xếp ra về. Những chiếc xe tải, xe buýt đang rời khỏi khuôn viên để đến phi trường, bến xe hoặc ga xe lửa, hoặc đến các trung tâm YWAM trên các vùng đất khác thuộc Bắc Mỹ hoặc Nam Mỹ. Sheila bước ra giữa ánh nắng rực rỡ với ba lô trên lưng, một chiếc bao ngủ và túi trống rỗng. Cô cảm tạ Chúa vì một ngày mới và về điều mà cô đang học tập để an tâm tin cậy Ngài.
Trong lúc đợi ở bên ngoài cùng với những người khác tiến đến chỗ xe buýt đậu, cô nghe có ai gọi tên mình.
“Sheila Walsh? Ai là Sheila Walsh?”. Cô quay lại, và thấy một trong những phụ nữ trẻ làm việc trong ban điều hành “Có một sự nhầm lẫn trong số tiền cô trả cho thời gian ở lại đây”, cô ta giải thích “Cô đã trả dư”. Sheila bóc chiếc phong bì vừa được ấn vào tay mình. Cô lôi ra bảy tờ mười đồng. Thế rồi xe buýt đến đưa cô ra bến xe.
Những phép lạ cũng như những sự cung ứng đầy kịch tính như vậy không xảy ra mỗi ngày, nhưng đó chính là những dấu ấn để nhắc nhở chúng ta về sự thành tín của Đức Chúa Trời vẫn có từ năm này qua năm khác. Những sự cung ứng đặc biệt như vậy không chứng tỏ sự thuộc linh của chúng ta, mà thật sự chứng tỏ cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời thật lớn lao đủ cho bất cứ một tình huống hoặc thử thách nào.
Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân Ysơraên trong đồng vắng suốt bốn mươi năm, cung ứng lương thực từ trời, nước từ vầng đá, và áo xống chẳng hề hư mòn. Ngài phán với họ vì lý do nào Ngài làm điều đó “Hãy nhớ trọn con đường nơi đồng vắng mà Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi đã dẫn ngươi đi trong bốn mươi năm nầy… để dạy cho ngươi biết rằng loài người sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Giêhôva” (PhuDnl 8:2-3)
Đức Chúa Trời hiện vẫn đang cần một dân tộc bằng lòng sống theo cách ấy, không nhờ cậy vào những phương tiện của chính mình để xem đó như là một cách kiếm sống, cũng không nhờ cậy vào một tổ chức nào thuộc về đời nầy, nhưng trông cậy nơi chính Ngài.
Nhiều dân tộc ngày nay đang ở ngưỡng cửa của sự phá sản. Nền kinh tế của thế giới thật dễ đổ vỡ, gắn bó với nhau bằng một chính quyền đặt niềm tin trên một chính quyền khác, bởi một cá nhân đặt niềm tin trên một cá nhân khác và bởi những người đặt niềm tin vào một hệ thống tiền tệ bởi vì chính quyền dựa trên hệ thống tiền tệ đó.
Sau một trong các kỳ kiểm tra sức khỏe hàng năm của bố tôi, bác sĩ tuyên bố ông “vô cùng nhu nhược!”. Bố tôi trả lời với ánh mắt tinh nghịch “Thế thì tôi thật sự lo sợ đấy bác sĩ ạ”.
Chúng ta không thể đặt đức tin mình trên bất cứ tổ chức nào của loài người, chúng đều sẽ sụp đổ. Bạn có thể bỏ tiền vào những chương trình bảo hiểm hoặc các cổ phần và trái phiếu, hoặc tiền trợ cấp hàng năm. Những thứ ấy chẳng có gì là sai. Nhưng đừng đặt đức tin vào đấy. Hãy đặt lòng tin cậy của bạn vào điều cao hơn con người. Tôi đã khám phá được rằng, con người ta vì xu hướng ích kỷ, đôi khi ngay cả trong một nổ lực nhằm giúp đỡ người khác đã không giúp được mà lại làm hỏng việc. Tôi không tin cậy loài người. Nhưng tôi tin những người nam người nữ thuộc về Đức Chúa Trời và tôi tin cậy Đức Chúa Trời. Tôi cũng tin Ngài cai trị và thậm chí kiểm soát những kẻ gian ác dưới quyền của Ngài.
Chúng ta cần phải nhìm xem Đức Chúa Trời như là nguồn cung ứng thật sự của mình. Khuynh hướng tự nhiên của lòng người ta là luôn hướng đến sự độc lập tách rời sự lệ thuộc vào Đức Chúa Trời và người khác. Có phải đó là lý do khiến Chúa Jesus dạy chúng ta hãy cầu nguyện “xin cho chúng tôi đồ ăn đủ ngày” không? Hãy lưu ý, Ngài không dạy chúng ta phải cầu xin đồ ăn cho tuần lễ kế tiếp, mà chỉ xin trong hoàn cảnh có cần lúc ấy. Sự lệ thuộc mỗi ngày nơi Chúa cho chúng ta biết chúng ta đang ở trong ý muốn của Ngài đang vâng phục Ngài. Mỗi ngày chúng ta có thể ngửa trông nơi Chúa hơn là nơi con người.
Những người tin cậy rằng Chúa sẽ lo liệu các nhu cầu cho họ đang lúc ở trong chức vụ hầu việc, đặc biệt cần phải ghi nhớ điều đó. Rất dễ để chúng ta để mắt vào những con người mà Chúa đã dùng trong quá khứ để đáp ứng các nhu cầu của chúng ta. Khi có một quyết định về mặt tài chánh, nếu không cẩn thận thậm chí chúng ta cũng bực bội những người không dâng hiến. Chúng ta phải chống lại những khuynh hướng nhờ cậy vào thế giới hiện hữu thay vì thế giới mà mắt trần không thấy được. Điều không thấy được thật sự bảo đảm và đáng tin cậy hơn. Đức Chúa Trời phán rằng trời đất sẽ qua đi, nhưng Lời Ngài sẽ chẳng hề qua đi. Ngài yêu thương chúng ta và quan tâm đến mọi lãnh vực của đời sống chúng ta cũng như từng nhu cầu của chúng ta. Và Ngài sẽ minh chứng Chính Mình Ngài cho chúng ta cũng như cho thế gian bằng cách chăm lo cho chúng ta.
Lắng Nghe Tiếng Chúa Và Học Biết Các Đường Lối Ngài
Một lý do khác nữa của việc sống bằng đức tin là học tập cách biết lắng nghe tiếng Chúa và vâng lời Ngài. Chúa phán rằng Cha chúng ta trên trời biết rõ điều chúng ta cần trước khi chúng ta xin Ngài. Vậy sao Ngài lại muốn chúng ta cầu xin? Đức Chúa Trời muốn giữ cho mối thông công với chúng ta được mở rộng. Nếu chúng ta tin cậy Ngài trong lãnh vực tài chánh, Ngài phải dẫn dắt từng bước đi của chúng ta. Ngài cần sự tập trung trọn vẹn của chúng ta để dạy dỗ chúng ta về bản tánh của Ngài, đường lối và quyền năng của Ngài.
Bạn hãy nhớ rằng dân Ysơraên biết các công việc Ngài, nhưng Môise thì biết các đường lối Ngài (Thi Tv 103:70). Ngài muốn chúng ta hiểu biết Ngài cách thật sâu nhiệm để có thể tin cậy Ngài nhiều hơn, và Ngài sẽ đặt để những tình huống đặng chúng ta có thể học biết đường lối Ngài trong khi tiếp nhận sự cung ứng cho các nhu cầu của mình.
Vào năm 1972, chúng tôi dự định tổ chức tại Munich thuộc Đức Quốc một cuộc truyền giáo lớn rộng nhất vào thời đó nhân khi có Thế vận hội Olimpic Mùa Hè.
Tuy nhiên trở ngại lớn nhất mà chúng tôi phải vượt qua là vấn đề nhà ở. Chúng tôi dự tính có một ngàn công tác viên từ khắp nơi trên thế giới đến. Nhưng sẽ cho họ ở đâu? Tất cả các khách sạn, các quán trọ thanh niên, các phòng trọ, thậm chí đến các dinh thự của tư nhân với các phòng phụ đều đã được đặt chỗ trước hàng tháng rồi.
Đã nhiều tháng rồi cho đến khi chúng tôi cần nơi ăn ở cho các công tác viên. Một nhu cầu cấp bách hơn nữa là chỗ để đặt máy in của chúng tôi. Chúng tôi đã nhận được tiền dâng cho các văn phẩm truyền giáo, nhưng cần phải tiết kiệm hơn nữa để mua một chiếc máy in Heidelberg và cùng với các nhân sự tình nguyện tự in lấy các văn phẩm. Chiếc máy in lớn sẽ được giao trong vài ngày tới, mà chúng tôi vẫn chưa có chỗ để nhận nó. Chúng tôi cử hai thanh niên là Gary Stephens và Doug Sparks để tìm chỗ.
Từ Đức, Gary gọi về cho tôi “Loren nầy, chúng tôi đã tìm được một chỗ cho máy in rồi”
“Cái gì cơ, Gary? Một nhà kho ư?”
“Phải, đúng, nhưng nó được gắn liền với một lâu đài của thế kỷ thứ mười sáu trong một thị trấn có tên là Hurlach. Tòa lâu đài đó đang được kêu bán!”
Bằng cách nào đó, ngay khi nghe anh báo như vậy, tôi đã biết tòa lâu đài ấy thuộc về chúng tôi mặc dầu chúng tôi không có thêm tiền để mua bất cứ thứ gì.
Tôi đi cùng với hai người bạn, Don Stephens và Brother Andrew để gặp gỡ các chủ nhân. Trên đường đến đó, Đức Chúa Trời đã ghi sâu vào đầu óc tôi số lượng tiền phải đề nghị và thời điểm mà chúng tôi cần phải giữ quyền sở hữu. Khi đã gặp, chúng tôi nói cho họ biết những điều kiện của mình: Trong mười ngày chúng tôi sẽ giao khoản thanh toán thứ nhất là 100.000 đồng Mác (tức là khoảng 31.000 Mỹ kim), nhưng chúng tôi cần được dọn vào tòa lâu đài ấy ngay ngày hôm sau (chúng tôi không còn cách lựa chọn nào khác. Chiếc máy in phải được giao vào ngày hôm sau…đến chỗ nào đấy!)
Những người chủ hơi sửng sốt, nhưng họ đi riêng ra để trao đổi. Vài phút sau họ trở lại, đồng ý với giá chúng tôi đề nghị và giao chìa khóa tòa lâu đài. Một trong những người chủ bất động sản bảo “Các anh thật có một cách thương lượng để mua bất động sản khác thường. Các anh đi mua mà cứ như là đang mua cây cà rem ấy!”
Công việc mua bán thật dễ dàng. Chúng tôi nhận quyền sở hữu tòa lâu đài ngay đêm đó. Trong vòng một tuần lễ, 100.000 đồng mác từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau ở tại Châu Âu đã được gởi tới. Mọi người đều cảm thấy được dẫn dắt để gởi chúng đến cho chúng tôi. Và chúng tôi dọn đến…ngay lập tức, chỉ vài giờ trước khi chiếc máy in Heidelberg đến nơi. Thật quá dễ dàng.
Tôi suy nghĩ “Điều này thật tuyệt diệu! Đức Chúa Trời phán với chúng ta và cho chúng ta các điều kiện, người ta đồng ý với điều kiện đó, thế rồi Đức Chúa Trời dẫn dắt con cái Ngài dâng hiến tiền bạc. Chúng tôi dọn vào một cơ ngơi và sử dụng nó cho sự hầu việc Chúa”. Tôi mong là công việc lúc nào cũng được dễ dàng như vậy.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời muốn dạy dỗ chúng tôi các đường lối Ngài, để chúng tôi phải đặt lòng tin cậy nơi Ngài, chứ không phải nơi các phương pháp. Điều đó có nghĩa là phương pháp sẽ luôn khác nhau ở hầu hết mỗi thời điểm. Chỉ có là dẫu khác nhau thế nào thì chúng tôi cũng phải sớm học biết.
Lynn và Marti Green đã rời trung tâm của chúng tôi ở tại Thụy sĩ để đi tiên phong trong một công tác khác tại Vương quốc Anh. Một ngày nọ, Lynn gọi về, phấn khởi về một bất động sản mà anh cảm thấy Đức Chúa Trời muốn ban cho họ.
“Thật không thể tin được, Loren à”, Anh ta nói với tôi qua điện thoại “Một tòa nhà cổ rất lớn của người Anh, rộng đủ để chứa 100 nhân sự và học viên. Gọi là Trang viên Holmsted. Tôi chưa bao giờ chọn một cơ ngơi quá lớn như vậy, nhưng Marti và tôi cùng các thành viên trong ban chấp hành đã cầu nguyện, và chúng tôi cảm biết điều đó đến từ Đức Chúa Trời”.
Thật tuyệt vời, tôi nghĩ, lại thêm một tòa lâu đài nữa. Đức Chúa Trời thật quá tốt lành và việc tin cậy Ngài như vậy để mua các bất động sản lớn thật quá dễ dàng.
Tôi bay đến phi trường Heathrow, nơi Lynn và Marti cùng với bảy thành viên ban chấp hành của tổ chức Thanh Niên Sứ Mạng của Vương quốc Anh đón tôi. Giữa lúc đó, tôi cũng vẫn đang cầu nguyện. Tôi cũng đã đồng ý với họ rằng, phải, điều đó đến từ Đức Chúa Trời, không phải chỉ là điều phấn khởi và khao khát của con người mà thôi.
Chúng tôi lái xe đến Crawley rồi sau đó đến Trang viên Holmsted cách trung tâm Luân Đôn 37 dặm. Tôi thật không nghĩ đến sự thanh lịch tao nhã thuở xưa của tòa nhà ba tầng với các công trình xây dựng khác nhau ở xung quanh nằm trên mảnh đất 13 mẫu Anh (khoảng 52.000 mét vuông). Giá đặt bán là 60.000 bảng Anh (khoảng 144.000 Mỹ kim vào lúc đó) kể cả 5000 bảng cho các đồ đạc trong nhà chính. Người chủ đã chia khu đất nguyên thủy ra như vầy: ba mẫu gồm một bể bơi, một sân bóng đá nằm bên một đường ô tô trong trang viên, cộng với ba mẫu ở bên kia đường được bán riêng rẻ. Phần còn lại là miếng đất có hình dạng của chiếc đàn ghita, mà cần đàn là một con đường xe ô tô chạy dài, không có cây cối dẫn đến trang viên oai nghiêm và các khu nhà chính.
Chúng tôi để chiếc xe tải của mình ngoài xa lộ và đi bộ trên đường ô tô vào trang viên và khu biệt thự cổ xưa đồ sộ nầy, chiêm ngưỡng lớp ván lót tường bằng gỗ sồi được chạm trổ bằng tay và những cửa sổ kính màu trong hành lang của sảnh đường. Trong lòng tôi có tiếng nói rằng: Đây là điều ta muốn ban cho con để làm trung tâm huấn luyện truyền giáo cho nước Anh.
Sau khi xem xét kỹ lưỡng các tòa nhà chính, nhiều người trong chúng tôi quyết định diễu hành vòng quanh chu vi bất động sản này, cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban nó cho chúng tôi. Chúng tôi khó khăn lội qua lớp đất bùn sình, lầy lội trong niềm phấn khởi tuyệt vời ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài hẳn sẽ ban cho số tiền có cần (Lúc ấy hội YWAM ở Vương quốc Liên hiệp Anh mới chỉ có 200 bảng trong ngân hàng – đủ để trả cho việc tham quan khảo sát ngôi biệt thự)
Khi kết thúc cuộc “diễu hành bằng đức tin” của mình, thay vì quay trở lại lối đi không có cây cối dành cho xe ô tô dẫn ra xa lộ, chúng tôi quyết định cùng “kéo quân” đến chung quanh các lô đất kế cận “chiếc cần đàn ghita” – là vùng đất không được kể vào dự án: ba mẫu đất có bể bơi và sân bóng đá, cộng với ba mẫu đất nằm ở phía bên kia lối đi.
Sau cuộc diễu hành cầu nguyện ngày hôm đó, Lynn và Marti bắt đầu nói với các Cơ Đốc nhân tại Anh quốc về kế hoạch dự định mua lãnh địa Holmsted làm trung tâm huấn luyện truyền giáo. Trong vòng bốn tháng, 6000 bảng Anh đã được gởi đến, vậy là đủ để đặt cọc. Dường như đây cũng sẽ là một cuộc chinh phục dễ dàng nữa…giống như tòa lâu đài ở tại Đức.
Điều đó rồi cũng sẽ xảy đến vào đúng thời điểm.. Lynn và Marti cùng 22 nhân sự của họ đều ở tạm với những người bạn khác nhau, và trong vòng ít ngày nữa, rất đông người tình nguyện vào dịp hè sẽ đến và làm chứng trên các đường phố thuộc Crawley. Lynn và Marti không biết sẽ phải cho tất cả những công tác viên ấy ở đâu.
Tuy nhiên, chúng tôi đang ở trong một khóa huấn luyện đặc biệt hoàn toàn dành riêng cho chúng tôi, do Chính Mình Cha thiên thượng sắp đặt. Ngài quan tâm đến việc chúng tôi cần học tập các đường lối Ngài hơn là việc mua được các bất động sản dễ dàng cho công việc Ngài. Thật bất ngờ, trước sự bối rối và buồn bã của chúng tôi, trang viên Holsted đã nhanh chóng được bàn giao cho một người khác!
Chúng tôi đến với Chúa và cầu hỏi “Vì sao điều này lại xảy ra? Chúng con đã nghĩ rằng Ngài bảo nó thuộc về chúng con để làm trung tâm huấn luyện các hội truyền giáo cơ mà?”. Không có câu trả lời…chỉ có sự bảo đảm yên lặng rằng Ngài đã có phán Trang viên Holmsted đã thuộc về chúng tôi.
Ngài đã xác quyết điều này bằng cách cảm động các bạn hữu Cơ Đốc dâng hiến cho việc mua Trang viên Holmsted, mặc dầu họ biết khu đất này đã bán rồi, số còn lại của khoản tiền 60.000 bảng Anh đã đến đủ, và chúng tôi cẩn thận cất nó vào một trương mục ngân hàng riêng biệt.
Trong lúc ấy, Lynn đã thuê được một ngôi nhà lớn để cung cấp chỗ ở cho các công tác viên mùa hè. Sau mùa hè đó, chúng tôi tiếp tục đeo đuổi Trang viên Holmsted, song chúng tôi hoàn toàn thất vọng. Đến lúc nầy Lynn và Marti cùng với 40 cộng sự viên hiện đang cư ngụ trong một căn nhà nhỏ ở tại Luân Đôn, cùng dùng chung một phòng tắm theo một thời khóa biểu được quy định rất chặt chẽ!
Chức vụ hầu việc tiếp tục được phát triển. Họ đã có những đội ngũ đi vào trung tâm Luân Đôn và các vùng ngoại ô khác, họ vẫn tiếp tục tạo cơ hội cho các buổi huấn luyện đặc biệt trong căn hộ thuê chật hẹp của họ, thường rất buồn cười. Có một giáo sư Trường Kinh Thánh từ Hoa kỳ dành vài ngày giảng thuyết trong gian phòng rộng nhất của họ, đó là một buồng ngủ rộng 4m dài 5m, với những chiếc giường tầng được xếp chung quanh. Các học viên ngồi trên giường tầng và học giả Kinh Thánh nghiêm trang đường hoàng đứng bên cửa sổ rao giảng hết lòng.
Ngày tháng trôi qua, nhưng Đức Chúa Trời không để cho chúng tôi từ bỏ ý định đó. Trang viên Holmsted được chuyển từ người chủ thứ nhất sang một người chủ khác gấp ba lần giá tiền chúng tôi đã đặt giá lúc đầu!
Trong lúc đó số nhân sự của YWAM ngày càng phát triển, phải dời chuyển hết nơi này sang nơi khác. Cuối cùng, chúng tôi (hợp đồng) thuê lâu đài Ifield, một tòa nhà đặc sắc khác, nhưng đã có phần mục nát chút ít, cách Trang viên Holmsted khoảng 6 dặm (khoảng 9 km). Một lần nữa, việc sắp xếp được thực hiện ngay truớc một vụ hè thu khác, các anh em tình nguyện chuẩn bị đến để làm công tác truyền giảng. Vấn đề duy nhất đó là, không có đồ đạc gì trong lâu đài Ifield cả.
Không đầy một tuần trước khi các anh em tình nguyện đến, Lynn lại tiến hành một cuộc thâm nhập vào Trang viên Holmsted, chỉ vì tò mò. Khi anh dừng xe, các công nhân ở đó đang khiêng đồ đạc ra. Anh hỏi thăm, người đốc công cho biết các chủ nhân mới đang tính mở một trường tư thục dành riêng cho nam sinh từ 7 đến 13 tuổi và họ muốn có những bàn ghế mới.
“Họ tính làm gì với số đồ đạc cũ này vậy?” Lynn hỏi, anh còn nhớ đó chính là số đồ đạc mà chúng tôi đã đặt giá 5.000 bảng Anh trong dự kiến ban đầu.
“Ôi, tôi đoán là họ sẽ mang ra đấu giá”
“Tôi mua được không?”, Lynn hỏi. Chắc hẳn người đốc công cũng có một số quyền hành nào đó bởi vì ông hỏi “Ông trả giá bao nhiêu?”, Lynn hít một hơi thật sâu và đáp “Một trăm bảng Anh”. Người đốc công lột nón ra và nhìn quanh các công nhân, vẫn cẩn thận bốc dỡ đồ đạc từ ngôi nhà đến lối đi vòng tròn trong sân. Ông chụp vội chiếc mũ lại trên đầu, nhìn vào Lynn và đáp trả “Hai trăm bảng Anh”. Rồi họ kết thúc với giá thỏa thuận là 150 bảng Anh. Thế là các thành viên của YWAM hoan hỉ thu nhặt các đồ đạc mà lúc trước họ đã phải thỏa thuận với giá 5.000 bảng Anh.
“Chúng tôi có cảm giác y như Giôsuê và Calép lúc mang những chùm nho khổng lồ từ Canaan về!” Lynn kể lại “Đối với chúng tôi, những đồ đạc ấy là một lời hứa về quyền thừa kế tương lai đối với Trang viên Holmsted”.
Nhưng hãy yên tịnh, khi ngày tháng đã kéo dài thành các năm, thật khó để giải thích về sự chậm trễ cho những người đã dâng hiến tiền của là những người tin cậy chúng tôi trong việc mua Trang viên Holmsted.
Trong những năm đó, một lần Lynn gặp tôi ở tại sân bay Heathrow, Luân Đôn. Chúng tôi ngồi trong chiếc xe đang đậu của anh ấy và cầu nguyện với Chúa để xin Ngài bằng cách nào đó cho chúng tôi có thể tạ lỗi trước công chúng và hoàn trả 60.000 bảng Anh trong ngân hàng cho những người đã dâng tặng. Chúng tôi nghĩ chắc hẳn chúng tôi đã mắc sai lầm. Đức Chúa Trời đã không phán gì về Trang viên Holmsted. Ngài đã ban lâu đài Ifield cho chúng tôi thay vào đó. Thật ra đến lúc ấy lâu đài Ifield cũng đã quá đông đến tràn ngập, với 100 nhân sự cùng các gia đình.
Nhưng Đức Chúa Trời không để chúng tôi làm điều vô ích. Mặc dầu Ngài đã quả quyết với chúng tôi rằng việc có lâu đài Ifield là đúng, song Ngài vẫn cho chúng tôi một sự xác quyết âm thầm rằng Lời Ngài vẫn không thay đổi từ bốn năm về trước. Chúng tôi cũng sẽ có Trang viên Holmsted. Chúng tôi có thể dễ dàng hiểu được Giôsép đã cảm thấy thế nào khi ông rời Aicập, nơi mà ông được rèn thử bởi Lời của Đức Giêhôva (105:19). Nếu chỉ nói lời xin lỗi và bảo rằng chúng tôi đã bỏ lỡ cơ hội thì chắc là dễ dàng hơn nhiều.
Cuối cùng, vào mùa hè 1975, bốn năm sau lần chúng tôi thực hiện cuộc diễn hành cầu nguyện lội qua các bãi đất sình lầy xung quanh Trang viên Holmsted và các mẫu đất tiếp giáp, tín hiệu đã đến từ người chủ. Họ chấp thuận giá đặt đầu tiên của chúng tôi: 60.000 bảng Anh!
Cũng vậy, trong những năm ấy, những miếng đất nằm hai bên bất động sản có hình dạng chiếc đàn ghita đã tính thêm vào. Bây giờ với 60.000 bảng, chúng tôi có được bất động sản mà ban đầu chúng tôi đã cố gắng mua cộng với ba mẫu đất có sân bóng đá và bể bơi cùng ba mẫu đất trồng trọt ở phía bên kia nữa – là các phần đất mà chúng tôi đã kể vào trong cuộc tuần hành cầu nguyện bốn năm về trước.
Sau khi đã chuyển đến Trang viên Holmsted, chúng tôi lại có một cuộc diễu hành khác nữa, lần này là cuộc diễu hành ngợi khen Chúa với 175 thành viên Thanh Niên Sứ Mạng bước đầu trên lãnh địa ấy. Chúng tôi đã có được quá nhiều, hơn cả một mảnh đất giá trị để sử dụng cho việc huấn luyện các nhà truyền giáo trẻ tuổi. Chúng tôi đã học tập được các đường lối của Đức Chúa Trời:
. Ngài đã tỏ cho chúng tôi thấy rằng khi Ngài phán, thì dẫu hoàn cảnh có nói khác hay các sự việc trở nên xấu đi, Ngài vẫn là Đấng làm mọi việc trôi chảy. Dầu vậy không phải lúc nào mọi việc cũng dễ dàng như mua những cây kem đâu.
. Chúng tôi học biết rằng, khi Đức Chúa Trời đã cho thêm chúng tôi lâu đài Ifield, đôi khi Lời Ngài phán không phải là chúng tôi chỉ có cái nầy hoặc cái kia nhưng là có cái nầy và cả cái kia nữa.
Chúng tôi cũng đã học biết nhiều điều khác nữa kể cả việc Cha thiên thượng quan tâm đến chính chúng tôi hơn các bất động sản nhiều. Ngài muốn dạy chúng tôi các đường lối Ngài và nhìn thấy tâm tánh chúng tôi tăng trưởng, đức tin chúng tôi gia tăng, hơn là lập tức cung ứng các nhu cầu của chúng tôi.
Nếu Đức Chúa Trời quan tâm đến chúng ta nhiều hơn Ngài quan tâm đến tiền bạc, thì tiền bạc có chỗ nào để cai trị chúng ta? Há Ngài không làm gì được với tiền bạc ư? hay Ngài chỉ quan tâm đến lĩnh vực tâm linh thôi? Trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ thấy hai lãnh vực này – Thuộc linh và thuộc thể có liên hệ với nhau như thế nào.
ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ TIỀN BẠC
Bạn hãy thò tay vào túi và lấy ra một đôla nếu có. Mở rộng tờ bạc ra và nhìn vào đó. Hãy nhìn vào mặt trước, có các hình vẽ và hình in khắc, lật sang bên kia và nhìn vào các dấu hiệu đặc biệt trên mặt sau. Nó là một tờ giấy ,được in khắc với sự pha trộn của mực đen và xanh lá. Một tờ giấy chứng nhận có giá trị cao với những sợi lông chỉ xanh đỏ trên nó. Đó chỉ là một tờ giấy và mực. Mỗi năm, chính phủ Hoa kỳ phát hành 1.600.000.000 tờ giấy bạc một đôla; bốn, năm tỉ tờ năm, mười, hai mươi, năm mươi và một trăm đôla. Những tấm giấy lớn màu xanh lá cây chạy qua máy in, được cắt và niêm cẩn thận, rồi chuyên chở đến các nhà băng trên toàn quốc để được cất giữ.
Đó là một loại hàng hóa đặc biệt, những chiếc máy in tương tự chỉ có thể sản xuất dễ dàng các thứ nhãn hiệu đủ loại. Nhưng những máy in tiền là thứ giấy cho phép giá trị công việc hoặc sản phẩm của một người được chuyển đổi thành một hình thức mà người ta có thể mang trong túi và trao đổi với các thứ hàng hóa khác hoặc các dịch vụ mà người đó cần, thậm chí mang theo đến nửa vòng trái đất cũng được. Đó là tiền.
Tuy nhiên, điều gì đó trong những mảnh giấy được in khắc này có thể hủy hoại một cuộc hôn nhân hoặc làm cho người nam người nữ phải hy sinh thì giờ nhàn nhã với gia đình và bạn bè, thậm chí cả sức khỏe để kiếm được chúng. Tờ giấy vô tội mà bạn đang cầm trên tay đã xô đẩy các thanh niên sống trong thành phố dụ dỗ các bạn bè họ nếm thử các chất kích thích giết người. Nó đã làm hỏng sự công nghĩa của người muốn bắt đầu đời sống ngay thẳng theo luật pháp. Lòng tham muốn tiền bạc đã dẫn người lớn đến chỗ thi hành cho trẻ những điều xấu xa không thể tả xiết, làm cho hàng triệu trẻ em phải ở trong tình trạng bị kinh doanh mại dâm. Sự tham muốn giàu sang thậm chí đã gây ra chiến tranh. Bằng cách nào đó, tiền bạc đã có được năng lực khủng khiếp để giành quyền kiểm soát linh hồn con người.
Sức mạnh của tiền bạc có thể mang lại sự sống hoặc sự chết. Tôi xin kể cho bạn nghe hai câu chuyện
Gần 20 năm trước, có một người ở miền Nam bang California đã dâng 2.000 Mỹ kim cho tổ chức YWAM để mua một bất động sản nằm tại một quốc gia ở Nam Thái bình dương thuộc đảo Fiji, không xa phi trường ở Nadi lắm. Trong nhiều năm, bất động sản này đợi ở đấy. Cuối cùng, vào năm 1983, một đội ngũ do Neville Willson hướng dẫn đã đến để đi tiên phong trong một công tác lâu dài ở Fiji. Chúng tôi có kể về một số người trong câu chuyện của ông Neville trong chương trước. Họ bắt đầu sử dụng căn nhà đó, một cấu trúc xây dựng đơn giản, phần lớn giống như căn nhà của những người hàng xóm trong các cánh đồng mía. Căn nhà ấy được sử dụng cho rất nhiều công tác hầu việc, kể cả việc phát động một dây chuyền cầu nguyện liên tục 24 giờ cho công việc truyền giáo của từng quốc gia trên thế giới. Họ đã cầu nguyện liên tục kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1989 cho đến nay, hơn 24.000 giờ, cho những nơi như Mông cổ, Ả rập, Saudi và nước Nga.
Về cơ bản, họ chẳng bao giờ có nhiều tiền bạc, nhưng họ có những tham vọng lớn để ảnh hưởng đến các quốc gia. Tám nhà truyền giáo người đảo Fiji đã đến những nơi như Ấn độ và các quốc gia khác nữa. Họ cũng muốn thực hiện một cuộc thay đổi ở tại đảo Fiji. Vì vậy, họ bắt đầu giúp đỡ những đứa bé nghèo nhất trên đảo, là con em của các công nhân sống trong ruộng mía mà nhiều người trong số họ từ Ấn độ đến, bằng cách bắt đầu một trường dành cho những trẻ em trước tuổi đến trường.
Trong các trường tiểu học của người Ấn độ ở tại Fiji, những đứa trẻ học giỏi được ngồi chỗ danh dự trên các hàng ghế đầu. Những em học kém thì phải ngồi ở các hàng ghế sau. Dân địa phương nói rằng con em của công nhân ruộng mía không bao giờ được ngồi ở các hàng ghế đầu. Từ nhiều thế hệ, chúng luôn học dở và cứ phải ngồi ở các hàng ghế sau. Ngày nay, nhờ có trường của hội YWAM dành cho trẻ trước tuổi đi học, con em của các công nhân ruộng mía đã được ngồi trên những dãy ghế đầu! Và một số phụ huynh của các em đã được hoán cải từ Ấn độ giáo đến chỗ đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus.
Tất cả những điều này, nào là trẻ em với một tương lai sáng lạng, các bậc cha mẹ với một đức tin mới mẻ, các nhà truyền giáo trẻ được sai phái ra đi sau một kỳ cầu nguyện kéo dài trên ba năm cho các dân tộc, đều là do một người từ California đã bằng lòng đầu tư 2.000 Mỹ kim cho công việc Chúa ở xa xôi mãi tận các hòn đảo của người Fiji. Như thử số tiền ấy đã đem lại sự sống, như một hạt giống được trồng và Đức Chúa Trời làm cho nó lớn lên.
Không phải lúc nào người ta cũng dâng tiền một cách rộng rãi và không phải lúc nào tiền bạc cũng đem lại sự sống. Nó có thể mang lại sự chết nữa đấy. Tôi xin kể cho bạn nghe câu chuyện thứ hai.
Năm ngoái, một cột lửa đỏ rực cùng các cuộn khói đen kịt cuốn lên bầu trời đêm của khu Austin, thuộc tiểu bang Texas, khi các nhân viên cứu hỏa vừa đến một căn hộ hai tầng rực lửa. Trong lúc các còi cứu hỏa hú rầm rĩ từ từ ngừng lại, nhiều người trong bộ đồ ngủ, đồ lót, thậm chí trong các tấm trải giường chạy ra khỏi tòa nhà. Một người lính cứu hỏa trẻ tuổi kinh hoàng nhìn lên khi trông thấy rõ ràng một phụ nữ mang thai đang đứng gào thét tuyệt vọng bên trong một cửa sổ của tầng hai. Và rồi, để đáp lại những tiếng gọi khẩn cấp bằng tiếng Tây ban nha của một thiếu phụ trẻ tuổi đang đứng dưới đất, cô ta nhảy xuống và chạm đất rơi đánh uỵch với tiếng rên rỉ đau đớn.
Những người lính cứu hỏa vội vàng nối các vòi nước và tiến thẳng vào giữa sức nóng kinh hồn, nhưng kinh nghiệm cho họ biết rằng đã quá trễ để cứu lấy tòa nhà hoặc bất cứ ai còn kẹt trong đó. Đây là một đám cháy nổ, có lẽ đã bắt đầu bởi dầu hỏa hoặc một chất dễ cháy nào đó.
Ở tầng trệt, một người đàn ông và một phụ nữ lảo đảo xông ra như những ngọn đuốc biết đi. Các y tá chạy đến, phủ những tấm mền lên mình họ để dập lửa, cố gắng yên ủi và dìu họ vào xe cứu thương.
“Không, tôi không đi đâu!”, người phụ nữ gào lên, gương mặt bà đầm đìa nước mắt “Con gái tôi còn trong đó! Tôi không đem nó ra được!”
Ngay khi ấy căn hộ của họ đã chìm trong biển lửa, người y tá trẻ tuổi lắc đầu buồn bã và cương quyết đưa bà về phía xe cứu thương.
Trời hầu như đã hừng sáng trước khi họ tìm thấy thi hài của bé gái 15 tháng trong đống đổ nát vẫn còn ngún khói. Nhưng trước khi tìm ra thi thể của em, giới chức trách đã tìm được sự thật khủng khiếp về nguyên nhân của vụ hỏa hoạn.
Một người đàn ông tức giận bởi ai đó không chịu trả cho ông 8 Mỹ kim, đã bắn súng pháo vào căn hộ qua một cánh cửa sổ và trúng vào một chất dễ bắt lửa. Tòa nhà bị thiêu rụi, bốn mươi tám người không có chỗ ở, bảy người phải vào nhà thương và một em bé bị chết. Tất cả chỉ vì một vụ cãi vả và 8 Mỹ kim.
Vì sao tiền bạc lại có một sức mạnh ghê gớm như vậy trên con người?
Đức Chúa Trời nghĩ gì về tiền bạc? Ngài có xem nó như là một điều ác bắt buộc phải có không? Có phải Chúa Jesus đã đặt Đức Chúa Trời và tiền bạc vào hai vị thế chống nghịch nhau khi Ngài phán “Các ngươi không thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi ma môn nữa” không? (Mat Mt 6:24).
Tiền bạc không phải là điều xấu, nhưng yêu mến tiền bạc là một điều ác. Phao Lô nói rằng lòng yêu tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác (ITi1Tm 6:10). Tiền bạc tự nó không có gì là xấu cả. Nhưng chính vì tội lỗi ở trong tấm lòng con người, chính lòng yêu tiền bạc đã đem người ta đến chỗ đau đớn và nô lệ, ngay cả đối với những Cơ Đốc nhân. Tiền bạc cũng giống như một con tắc kè hoa, thay đổi màu sắc tùy theo tấm lòng của chủ nó.
Có loại tiền bạc được xem như thứ tiền ô uế hoặc “đồng tiền bị vấy máu”. Ngay đến các thầy tế lễ cả cũng hiểu được điều đó, họ đã từ chối cất lại tiền của Giuđa vào kho.
Tuy nhiên, tiền bạc tự nó không xấu. Nó chỉ là mảnh giấy có mang dấu mực. Tiền bạc và Đức Chúa Trời cũng không chống nghịch nhau. Thật ra, Đức Chúa Trời vẫn thường sử dụng tiền bạc như một công cụ hữu ích cho nhiều công việc. Ngài dùng tiền bạc, hoặc việc thiếu tiền bạc để thử luyện chúng ta, để xem điều có trong lòng chúng ta. Cách chúng ta sử dụng tiền bạc là đồng hồ đo lường giá trị ưu tiên của bạn.
Khi một người trúng lô xổ số của nhà nước, một trong những câu hỏi đầu tiên mà các phóng viên thường hỏi người ấy là “Anh sẽ làm gì với số tiền này?”. Điều chúng ta không nhận ra đó là Đức Chúa Trời cũng hay hỏi chúng ta câu hỏi đó đối với mỗi một đồng bạc được đặt vào tay chúng ta. Điều chúng ta thực hiện với số tiền mình có sẽ bộc lộ bản tánh của chúng ta. Nếu trung tín trong lãnh vực tiền bạc, Chúa Jesus phán rằng chúng ta cũng sẽ được giao cho những của cải thuộc linh (LuLc 16:11)
Đức Chúa Trời cũng dùng tiền bạc để dạy chúng ta tin cậy Ngài. Bạn còn nhớ cách Êli được Chúa dẫn dắt đến một khe nước nơi Ngài giấu ông một thời gian trong suốt cơn đói kém lớn không? Chắc chắn ông đã nhanh chóng ổn định cuộc sống trong một thói lệ thông thường, mỗi ngày ông biết rõ giờ nào phải trông đợi quạ mang bánh buổi sáng và buổi chiều. Ông ngồi bên con suối mát mẻ dưới bóng mát của nó. Thế rồi, chậm chạp nhưng chắc chắn, con suối của ông cũng phải khô cạn đi.
Đức Chúa Trời không để cho ông thoải mái tin cậy vào con suối đó, mặc dầu nó đã từng là điều Ngài dự bị cho ông. Ngài sửa soạn dẫn Êli đến một nơi khác, bởi vì Ngài đã làm cho con suối của Êli cạn đi.
Khi nguồn tài chánh của chúng ta cạn đi, chúng ta sẽ sẵn sàng lắng nghe Chúa là Đấng muốn sự độc lập có tính ngoan cố của chúng ta phải lệ thuộc vào Ngài. Mục đích duy nhất của Ngài là để dạy dỗ chúng ta và đem chúng ta đến gần Chính Mình Ngài hơn. Chúng ta rất dễ đi vào một mức độc lập lớn hơn mức mà Ngài thấy là tốt nhất cho chúng ta.
Chúng ta cần nhận biết rằng việc thiếu thốn tiền bạc dứt khoát là điều đến từ Chúa cũng như việc được cung ứng tiền bạc vậy. Mới đây, trong lúc tôi đang trên một chuyến đi đến với các quốc gia đang phát triển, “khe suối” tài chánh của riêng tôi dường như đã bị cạn đi trong một lúc. Darlene về quê nhà tại Hawaii, mà không hề biết nguồn tài chánh của chúng tôi đã cạn kiệt như thế nào. Rồi ngày nọ, không còn tiền trong ngân hàng. Cũng chẳng còn tiền trong bất cứ chiếc ví nào. Vậy mà nàng lại đã lên chương trình đi ăn tiệm với một số bạn hữu. Nàng lục tìm khắp các tủ trong nhà để xem có đồng nào còn lạc loài. Và cuối cùng, dẫu không nhiều nhưng cũng vừa đủ ít nhất để trả cho nhà hàng mà nàng đã chọn.
“Đức Chúa Trời muốn em phải lưu tâm”. Về sau nàng kể lại cho tôi, “Vì vậy em hỏi Ngài vì sao hôm ấy chúng ta lại không có tiền”. Khi Darl yên tịnh và lắng nghe thì Chúa phán rằng “Lâu nay, con đã tin cậy ta về những nhu cầu nhỏ mọn hằng ngày, chẳng hạn như việc cung cấp một ống kem đánh răng. Hàng ngàn người trẻ tuổi trong tổ chức YWAM cũng đang trải qua bài học này mỗi ngày. Ta chỉ muốn nhắc nhở con rằng những nhu cầu của con cũng như của họ đều được chính Ta thỏa đáp”.
Từ trước đến nay, tôi vẫn được nghe về việc những khe suối của người khác cạn kiệt, một số trường hợp còn nghiêm trọng hơn tình huống tạm thời nầy của chúng tôi nhiều. Một tôi tớ Chúa đã dốc đổ lòng ông ra với chúng tôi, ông nói ông và vợ đã chia xẻ những nhu cầu của công tác chức vụ trong các hội thánh suốt một năm mà không hề nhận được lời cam kết ủng hộ nào. Không có một đồng. Tôi nghĩ mình có thể nhận định được một số lý do về việc đó, nhưng vì để đẩy ông vào chỗ nhận được sự hiểu biết từ nơi Chúa.
Tuy nhiên, tôi đã biết rõ được một điều. Những sự thiếu thốn lạ lùng như vậy cũng là một phép lạ nữa. Sự thiếu thốn đó cũng là một phép lạ giống như sự tiếp trợ dư dật bất ngờ về mặt tài chánh. Bởi vì một cặp vợ chồng đáng mến và đáng kính như vậy mà phải thiếu thốn suốt trong một năm mà không cá nhân nào hay một hội thánh nào dâng hiến giúp đỡ thì đó cũng là một phép lạ.
Khi khe nước khô cạn, chúng tôi cần cầu hỏi Chúa phải dời chuyển đến đâu, cũng như Êli đã làm.
Bởi vì tiền bạc là quan trọng trong đời sống chúng ta. Lời Chúa dành nhiều chỗ để nói đến nó. Thật vậy có 3225 câu Kinh Thánh nhắc đến vấn đề tài chánh. Chúng ta không phải thắc mắc xem Đức Chúa Trời nghĩ gì về tiền bạc và công dụng của nó khi chúng ta tra xem các câu Kinh Thánh ấy. Trong chương sau, chúng ta sẽ thấy những gì Kinh Thánh phải nói về một số trong các lãnh vực quan trọng nầy. Với những nền tảng đó, chúng ta có thể tiếp tục làm bất cứ điều gì Chúa dẫn dắt trong sự tự do hoàn toàn.
Có nhiều kế hoạch làm giàu hứa hẹn sự tự do về mặt tài chánh. Đức Chúa Trời cũng hứa ban cho sự tự do về mặt tài chánh, nhưng sự tự do của Ngài hoàn toàn khác với những hứa hẹn rỗng tuếch của những người môi giới và buôn bán. Ngài hứa rằng chúng ta sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha chúng ta. Điều đó gồm cả việc học biết lẽ thật về tiền bạc. Chúng ta có thể thật sự được buông tha.
Nhưng trước hết, cần học biết một số điều về đối thủ của chúng ta và về tiền bạc. Đức Chúa Trời không phải là Đấng duy nhất quan tâm đến vấn đề tiền bạc. Kẻ thù của chúng ta, Satan cũng dính dáng rất nhiều đến tiền bạc, cả trên bình diện lớn, quốc tế, lẫn trong lĩnh vực riêng tư chống lại chúng ta với tư cách mỗi cá nhân.

 

” Nhờ ơn lành của Chúa những cuốn sách này được phép tải về miễn phí trong phạm vi sử dụng cá nhân. Nếu bạn sao chép, tái xuất chuyển giao, ghi âm, dịch thuật hoặc sử dụng  trong bất cứ cách nào thì phải được sự cho phép bằng văn bản của tác giả. Rất mong sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn để Thư viện có thêm nhiều sách. “

Những Bài Viết Trong Mục Nầy